CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO ĐẾN XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA QUỐC GIA 1. Khái niệm và phân loại hiệp định thương mại 1. Khái niệm hiệp định thương mại và hiệp định thương mại tự do 1. Khái niệm hiệp định thương mại Cho đến nay, đã có nhiều định nghĩa khác nhau được các tổ chức, quốc gia đưa ra về hiệp định thương mại.
Trong từ điển Cambridge (2022) định nghĩa Hiệp định thương mại là một thoả thuận chính thức giữa hai hoặc nhiều quốc gia nhằm cải thiện quan hệ thương mại giữa các quốc gia. Mở rộng hơn, theo Hội đồng xúc tiến thương mại Ấn Độ định nghĩa Hiệp định thương mại là thoả thuận của hai hay nhiều quốc gia về các điều khoản cụ thể về thương mại, giao dịch hàng hoá dịch vụ, quá cảnh hoặc đầu tư. Chủ yếu dựa trên nguyên tắc đôi bên cùng có lợi. Các hiệp định thương mại đóng vai trò xúc tác trong việc tăng cường thương mại giữa các đối tác bằng cách giúp họ tận dụng sự bổ sung lẫn nhau và cung cấp khả năng tiếp cận tốt hơn vào các ngành của nhau.
Tuỳ thuộc vào các điều khoản và thoả thuận được các bên tham gia đồng ý, hiệp định thương mại được chia thành một số loại khác nhau trong đó bao gồm hiệp định thương mại tự do, hiệp định đối tác kinh tế toàn diện,… 1. Hiệp định thương mại tự do Theo cách hiểu truyền thống, Hiệp định thương mại tự do là một thoả thuận ưu đãi về thuế quan đối với các nước không phải là thành viên (Krueger 1997). Bên cạnh các thoả thuận và cam kết loại bỏ thuế quan giữa các thành viên, các bên tham gia hiệp định vẫn duy trì chế độ thuế quan thương mại với các quốc gia bên ngoài hiệp định một cách độc lập (Plummer 2010). Theo Bộ ngoại giao và thương mại Úc (2011) chỉ ra nội dung của các hiệp định thương mại cần thoả mãn 2 điều kiện gồm: loại bỏ thuế quan và các hạn chế khác đối với phần lớn hàng hoá buôn bán giữa các 7 quốc gia thành viên; loại bỏ phần lớn tất cả các phân biệt đối xử đối với các nhà cung cấp dịch vụ từ các nước thành viên.
Như vậy, có thể hiểu hiệp định thương mại tự do là một hiệp ước quốc tế nhằm loại bỏ các rào cản thuế quan đối với hàng hóa và dịch vụ giữa hai hay nhiều quốc gia tạo điều kiện cho quan hệ thương mại giữa các nước ký kết chặt chẽ hơn từ đó hình thành nên một liên minh hải quan. Nghiên cứu theo hướng hiện đại, các tổ chức, nhà nghiên cứu đã mở rộng định nghĩa của hiệp định thương mại tự do không chỉ dừng ở phạm vi loại bỏ thuế quan, hàng rào phi thuế quan. Bao gồm nhiều vấn đề rộng hơn cả cam kết trong khuôn khổ GATT/WTO cũng như những vấn đề chưa được đề cập bởi WTO. Điển hình, theo cục quản lý thương mại quốc tế Hoa Kỳ cho rằng Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement) là một thoả thuận giữa hai hoặc nhiều quốc gia trong đó các quốc gian đồng ý về các nghĩa vụ nhất định ảnh hưởng đến thương mại hàng hoá và dịch vụ cũng như các biện pháp bảo vệ nhà đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ và trong các nội dung khác.
Các hiệp định thương mại tự do mới gần đây còn quy định về hoạt động kinh tế bên cạnh thương mại hàng hóa và dịch vụ như đầu tư nước ngoài, mua sắm chính phủ, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đối xử với lao động và môi trường, phát triển bền vững. Hiệp định thương mại tự do không chỉ dừng lại ở việc tạo ra các khu vực thương mại tự do (Free Trade Areas) mà còn có thể tạo ra các hình thức hội nhập kinh tế cao hơn như liên minh hải quan, thị trường chung, liên minh kinh tế. Trong đó, liên minh hải quan là nơi các thành viên tham gia tự do trao đổi thương mại lẫn nhau và duy trì mức thuế quan chung và những chính sách thương mại khác nằm ngoài khuôn khổ thoả thuận. Ở mức độ cao hơn là hình thành thị trường chung, ở đó các quốc gia tham gia tiến xa hơn một liên minh hải quan bằng giảm thiểu các rào cản về lao động và dòng vốn xuyên biên giới.
Hình thức hội nhập cao nhất là liên minh kinh tế, mơi các quốc gia tham gia hợp nhất nền kinh tế với nhau bởi việc tạo ra đồng tiền chung từ đó hợp nhất chính sách tiền tệ và tạo ra thị trường, thể chế kinh tế chung. Liên minh kinh tế Châu Âu (EU) là ví dụ điển hình nhất về hình thái hội nhập sâu rộng dựa trên hiệp định thương mại tự do. Tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa các thành viên tham gia ký kết hiệp định thương mại tự 8 do mà phạm vi và mức độ phức tạp của các hiệp định cũng khác nhau. Tuy nhiên, các hiệp định thương mại tự do đều dựa trên sự tự do hoá trong thương mại và có sự tham gia của các nước đang phát triển.
Như vậy, dựa trên các quan điểm của các tổ chức, nhà nghiên cứu phía trên, tác giả tổng hợp Hiệp định thương mại tự do là một thỏa thuận thương mại tự do giữa hai hoặc nhiều quốc gia/ vùng lãnh thổ nhằm mục tiêu tự do hoá thương mại thông qua các thỏa thuận cắt giảm và loại bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan theo lộ trình giữa các bên tham gia. Đồng thời thực hiện cam kết về các vấn đề như đầu tư, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ, lao động… Từ đó, tạo điều kiện cho các quốc gia tận dụng lợi thế so sánh, chuyên môn hóa sản xuất và phân bổ nguồn lực để tận dụng lợi ích từ thương mại quốc tế và thúc đẩy thị trường quốc tế rộng mở, cạnh tranh. Với phạm vi của bài nghiên cứu này, tác giả sẽ tập trung phân tích các tác động của Hiệp định thương mại tự do đến thương mại hàng hoá. Phân loại hiệp định thương mại Dựa vào thoả thuận và các điều khoản mà hiệp định được chia thành nhiều loại khách nhau.
Phổ biến nhất là cách phân loại dựa trên số lượng thành viên tham gia. Trong đó bao gồm: - Hiệp định thương mại song phương là hiệp định giữa hai quốc gia/ vùng lãnh thổ tham gia ký kết và chỉ có giá trị ràng buộc đối với hai quốc gia này. Nội dung và các phạm vi được thoả thuận trong hiệp định được thông qua bởi hai nước tham gia dẫn đến quá trình đàm phán và thực hiện đạt được kết quả dễ dàng và nhanh chóng hơn so với các loại hiệp định khác. Bên cạnh những hệ quả tích cực mà hiệp định này mang lại như thúc đẩy thương mại song phương và kích thích nền kinh tế của các nước tham gia, việc ký kết hiệp định thương mại song phương giữa quốc gia phát triển và quốc gia đang phát triển cũng dẫn đến một số tác động tiêu cực.
Điển hình, (1) là tác động chuyển hướng thương mại; (2) trong quá trình đàm phán, các nước đang phát triển thường có vị thế đàm phán thấp hơn do trình độ phát triển công nghệ thấp hơn cũng như hệ thống luật pháp chưa bao quát toàn diện dẫn 9 đến quốc gia này thường phải chấp nhận nhiều yêu cầu mà đối tác nước phát triển đưa ra; (3) đối với các nước đang phát triển việc ký kết nhiều hiệp định song phương cùng lúc sẽ làm tăng sức ép về nguồn lực, về công tác quản lý…; (4) do trình độ phát triển giữa hai bên tham gia ký kết còn có sự khác biệt lớn dẫn đến nguyên tắc bình đẳng trong đàm phán rất khó đạt được (Matsushita 2018); (5) Các nước đang phát triển gặp nhiều khó khăn khi thực hiện các nội dung đã cam kết như việc đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật về lao động và môi trường cũng như các nội dung liên quan tới mua sắm của chính phủ. Không những vậy, các quốc gia này còn có thể bị mất đi khả năng bảo vệ thị trường nội địa với những ngành công nghiệp non trẻ trước sức ép cạnh tranh lớn từ các doanh nghiệp lớn của nước ngoài. Điển hình của hiệp định song phương là hiệp định VJEPA Việt Nam - Nhật Bản, Hiệp định song phương về bảo hiểm xã hội của Việt Nam và Hàn Quốc… - Hiệp định thương mại đa phương là hiệp định có sự tham gia ký kết của 3 quốc gia/ vùng lãnh thổ trở lên. Hiệp định này tác động toàn diện và sâu rộng hơn các hiệp định song phương thông thường.
Cũng vì vậy mà việc đàm phán đa phường thường rất khó và mất nhiều thời gian. Trong bối cảnh toàn cầu hoá là xu thế, các nước đều muốn mở rộng thị trường và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với các nước khác hoặc khản định vị thế cũng như tiếng nói của quốc gia trên trường quốc tế. Đây là động lực để các quốc gia tham gia đàm phán và ký kết các hiệp định đa phương này. Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) và hiệp định khung về thương mại dịch vụ (GATS) của WTO là hai ví dụ điển hình của loại hiệp định này.
- Hiệp định thương mại khu vực cũng giống hiệp định thương mại đa phương ở khía cạnh số lượng thành viên tham gia (từ 3 quốc gia trở lên). Tuy nhiên, với loại hiệp định này, các quốc gia thành viên phải có vị trí địa lý gần nhau nhằm tận dụng lợi thế về địa lý để thúc đẩy thương mại cũng như tạo ra thị trường chung hoặc các liên minh kinh tế. AFTA, EU hay NAFTA (nay là USMCA) là ví dụ cho loại hiệp định này. - Hiệp định thương mại hỗn hợp là dạng kết hợp giữa hiệp định thương mại 10 song phương và hiệp định thương mại đa phương.
Là sự kết hợp giữa một liên kết kinh tế quốc tế với một quốc gia, một số quốc gia hoặc một số liên kết kinh tế quốc tế khác. Đây là một dạng đặc biệt của hiệp định thương mại song phương bởi số bên tham gia hiệp định chỉ là 2 bên. Mặc dù quá trình đàm phán loại hiệp định này nhiều phức tạp, song đây lại là loại hình hiệp định đang phát triển nhanh chóng điển hình như các hiệp định thương mai hỗn hợp của khu vực mậu dịch tự do ASEAN: AJCEP, AANZFTA, AIFTA, ACFTA hay Việt Nam - EAEU, EC-Isarel… Với mỗi loại hình hiệp định thương mại, việc đàm phán ký kết và thực thi các nội dung trong hiệp định sẽ có những khó khăn và thuận lợi riêng.