Chương 1 trình bày một số cơ sở lý thuyết và thực tiễn về tác động của hiệp định thương mại tự do đối với xuất khẩu dệt may; Chương 2 phân tích thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang thị trường EU, đồng thời đánh giá những tác động tiềm năng của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU đối với ngành dệt may xuất khẩu của Việt Nam; Chương 3 làm rõ những cơ hội, thách thức đối với ngành dệt may xuất khẩu nước ta khi Việt Nam ký kết hiệp định thương mại tự do với EU và đề xuất một số kiến nghị để tận dụng lợi ích của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU đối với xuất khẩu dệt may. Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới ThS. Đỗ Ngọc Kiên, giảng viên Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn em hoàn thành khoá luận này. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƢƠNG MẠI TỰ DO ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU DỆT MAY 1.
Một số lý thuyết về tác động của tự do hoá thƣơng mại đối với xuất khẩu dệt may Tự do hoá thương mại là xu thế chủ đạo trong thương mại quốc tế, là quá trình các quốc gia cắt giảm và tiến tới xoá bỏ các rào cản thương mại, bao gồm quá trình cắt giảm thuế quan và hàng rào phi thuế quan, xoá bỏ sự phân biệt đối xử, tạo lập sự cạnh tranh bình đẳng nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho thương mại phát triển (Bùi Thị Lý và cộng sự, 2009, trang 42). Để giải thích lợi ích của thương mại quốc tế cũng như tác động của tự do hoá thương mại đã có rất nhiều lý thuyết, mô hình ra đời, trong đó lý thuyết về lợi thế so sánh, lý thuyết về sự ưu đãi của các yếu tố, lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia và mô hình cân bằng bộ phận là bốn lý thuyết thương mại tương đối nổi bật. Trong khuôn khổ của khoá luận này, các lý thuyết này sẽ được phân tích trong bối cảnh gắn với xuất khẩu sản phẩm dệt may để làm nổi bật tác động của thương mại tự do đối với hoạt động xuất khẩu dệt may. Lý thuyết về lợi thế so sánh Khi một nước có lợi thế tuyệt đối so với nước khác về sản xuất một loại hàng hoá thì lợi tích từ việc tự do hoá thương mại rõ ràng.
Tuy nhiên, hiện nay các nước phát triển thường sản xuất hiệu quả hơn các nước đang phát triển trong hầu hết các mặt hàng nhưng thương mại quốc tế vẫn diễn ra ngày càng mạnh mẽ giữa hai nhóm nước này. Theo David Ricardo, thực tế này xuất phát từ lý thuyết về lợi thế so sánh mà theo đó, tất cả các quốc gia đều có lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế. Học thuyết của nhà kinh tế chính trị người Anh, David Ricardo, ra đời trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa, sau khi cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành. Chính sự phát triển cao độ của chủ nghĩa tư bản và phân công lao động đã tạo tiền đề cho David Ricardo đưa ra những tư tưởng kinh tế tiến bộ và mang tính thời đại.
Trong tác phẩm “Những nguyên lý của kinh tế chính trị học và thuế khoá”, nhà kinh tế Ricardo (1817) đã phát biểu nội dung của lý thuyết về lợi thế so sánh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 như sau: Một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng có giá cả thấp hơn một cách tương đối so với quốc gia kia. Nói cách khác, một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng mà quốc gia đó có thể sản xuất với hiệu quả cao hơn một cách tương đối so với quốc gia kia. Cụ thể, quốc gia A sẽ sản xuất và xuất khẩu mặt hàng X và nhập khẩu mặt hàng Y khi: Mặc dù giả định về tự do hoá thương mại hoàn toàn của mô hình là rất khó thực hiện và mô hình còn mang tính giản đơn nhưng lý thuyết về lợi thế so sánh ra đời đã góp phần giải thích cho thương mại quốc tế trong trường hợp mà một số nước có lợi thế tuyệt đối về hầu hết các mặt hàng trong khi một số khác lại hầu như không chiếm được lợi thế tuyệt đối trong bất cứ ngành hàng nào. Lý thuyết đã kêu gọi tự do hoá thương mại, xoá bỏ chính sách bảo hộ mậu dịch trong bối cảnh hội nhập ngày nay.
Trong lĩnh vực dệt may, một số nước đang phát triển như Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan có lợi thế so sánh vượt trội so với các quốc gia phát triển như Mỹ, EU, Nhật Bản,… bởi các nước này sở hữu nguồn lao động dồi dào với giá nhân công rẻ nên chi phí lao động để sản xuất ra các sản phẩm dệt may nói chung thấp hơn một cách tương đối so với các nước phát triển ở trình độ cao. Có thể thấy hiện nay, Việt Nam, Trung Quốc,… xuất khẩu một lượng lớn hàng dệt may đủ các loại sang thị trường Mỹ và các nước châu Âu phát triển để đổi lại các sản phẩm có hàm lượng vốn và công nghệ cao từ các nước này. Nguồn gốc của lợi thế so sánh có thể đến từ lợi thế về tự nhiên, tài nguyên, khí hậu, địa hình, cũng có thể đến từ kỹ thuật, nguồn lao động lành nghề,… Trong sản xuất dệt may thì địa hình, khí hậu thích hợp cho việc trồng bông, sản xuất vải và nguồn lao động dồi dào được xem là những nhân tố chính mang lại lợi ích so sánh cho một quốc gia. Đồng thời, đối với các quốc gia có truyền thống và tên tuổi trong ngành hàng dệt may thì vấn đề năng suất lao động thường khá khả quan do lao động có kinh nghiệm và tay nghề, do đó chi phí lao động càng được hạ thấp hơn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Như vậy, theo lý thuyết về lợi thế so sánh, một quốc gia sẽ sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm dệt may nếu: Hình 1.1: Mô hình so sánh chi phí lao động tƣơng đối Hàng hoá khác Nước B Nước A O Dệt may Nguồn: Tác giả tự xây dựng Trong mô hình trên, nước A có chi phí lao động để sản xuất dệt may thấp hơn một cách tương đối so với nước B nên nước A nên chuyên môn hoá sản xuất dệt may để xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá khác. Hiện nay, khái niệm “lợi thế so sánh biểu hiện” (Revealed Comparative Advantage – RCA) của Bela Balassa được dùng để đo lường mức độ lợi thế so sánh của sản phẩm này với sản phẩm khác và của nước này với nước khác. Theo Balassa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 (1965), hệ số RCA đối với hàng dệt may của quốc gia V được xác định theo công thức: RCA = (ETV/EV) : (ETW/EW) Trong đó: ETV là kim ngạch xuất khẩu dệt may của nước V; EV là tổng kim ngạch xuất khẩu của nước V; ETW là kim ngạch xuất khẩu dệt may của thế giới; EW là tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới. RCA ≥ 2,5 cho thấy ngành dệt may có lợi thế so sánh rất cao; 1 < RCA < 2,5 cho thấy ngành dệt may có lợi thế so sánh; RCA ≤ 1 cho thấy ngành dệt may không có lợi thế so sánh.
Dựa trên cơ sở dữ liệu của Trung tâm thương mại quốc tế (2015b) về kim ngạch xuất khẩu dệt may và tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và thế giới có thể tính được RCA của các sản phẩm dệt may theo công thức trên, theo đó RCA của sản phẩm dệt may Việt Nam phân theo Hệ thống hài hoà (HS) với mã HS 61, 62 và 63 năm 2012 lần lượt là: 4,91; 6,07 và 2,51. Có thể thấy, dệt may Việt Nam có lợi thế so sánh rất cao và có tiềm năng xuất khẩu lớn. Lý thuyết về sự ưu đãi của các yếu tố Trong lý thuyết về lợi thế so sánh, David Ricardo chỉ xem xét tới lao động là đầu vào sản xuất nhưng trên thực tế, để sản xuất ra một sản phẩm dệt may cũng như bất cứ mặt hàng nào phải sử dụng một tập hợp của các yếu tố: vốn, công nghệ, lao động,… Tuy nhiên giá cả, mức độ sẵn có của chúng ở mỗi quốc gia là không giống nhau. Trên cơ sở đó, lý thuyết về sự ưu đãi của các yếu tố của hai nhà kinh tế Heckscher và Ohlin đã ra đời đã giải thích về sự ảnh hưởng của các nhân tố sản xuất đến thương mại.
Lý thuyết của hai thầy trò nhà kinh tế học Thuỵ Điển, Eli Filip Heckscher và Bertil Ohlin, ra đời vào đầu thế kỷ XX và là một trong những học thuyết kinh tế tân cổ điển nổi bật nhất. Lý thuyết là thành quả do Ohlin xây dựng dựa trên các công trình của Heckscher và được công bố lần đầu trong cuốn sách “Thương mại quốc tế và thương mại giữa các vùng” (1933) của ông. Vì thế lý thuyết còn được gọi là Định lý H – O với nội dung: Một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng mà việc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 sản xuất đòi hỏi sử dụng nhiều một cách tương đối yếu tố sản xuất dồi dào của quốc gia đó. Mặc dù lý thuyết về sự ưu đãi của các yếu tố đã bổ sung cho lý thuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo: Thương mại không chỉ do sự khác nhau về năng suất lao động giữa các quốc gia quyết định mà chính sự khác nhau về tỷ lệ các yếu tố sản xuất được sử dụng là nguồn gốc của lợi thế so sánh giữa các quốc gia; tuy nhiên, học thuyết còn tồn tại một số hạn chế do các giả định của học thuyết rất khó thực hiện như: Chưa tính đến sự khác biệt về công nghệ giữa các quốc gia; Hiệu suất có thể thay đổi theo quy mô; Rất khó tạo ra một thị trường cạnh tranh hoàn hảo đối với cả hàng hoá và các yếu tố sản xuất; Một khi có thương mại tự do thì các yếu tố sản xuất dễ dàng di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác; Sở thích của từng nước đối với từng mặt hàng là không giống nhau; Chưa tính đến chi phí vận chuyển và các rào cản thương mại khác.
Đối với ngành dệt may, theo Định lý H – O, một quốc gia sẽ xuất khẩu dệt may nếu việc sản xuất dệt may sử dụng nhiều một cách tương đối yếu tố sản xuất dồi dào của quốc gia đó.