CHƯƠNG 1 Dữ liệu từ thị trường chứng khoán cho thấy các công ty ngành dầu khí của Việt Nam chịu tác động đáng kể từ các biến động trên thị trường dầu thế giới. Đặc biệt là các sự kiện kinh tế toàn cầu như khủng hoảng tài chính năm 2007-2008 và cuộc cách mạng dầu đá phiến năm 2014. Lý do này đã thúc đẩy tác giả thực hiện nghiên cứu để xác định mối quan hệ giữa giá cả dầu thô thế giới lên kết quả hoạt động của các công ty dầu khí trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015. Dữ liệu nghiên cứu bao gồm các tỷ số tài chính được tính toán từ báo cáo tài chính của 18 công ty dầu khí niêm yết trên hai sàn chứng khoán của Việt Nam là HOSE và HNX giai đoạn 2005-2015.
Mô hình nghiên cứu chính là mô hình GMM sai phân bậc một theo cách tiếp cận của Arrelano Bond năm 1991. Để kiểm định lại tính vững của mô hình chính tác giả sử dụng thêm ba mô hình hồi quy dữ liệu bảng tĩnh là pooled, fixed và random effects. Bố cục của bài nghiên cứu dựa trên tiêu chuẩn 5 chương. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2.
TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù của nền kinh tế hàng hóa phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có (lao động, vốn, máy móc thiết bị,.) nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp trong từng thời kỳ phát triển của nó. Bản chất của hiệu quả hoạt động kinh doanh là hiệu quả hoạt động kinh tế được xem xét trong phạm vi doanh nghiệp và được thực hiện thông qua nâng cao năng suất và tiết kiệm chi phí trong quá trình tiến hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chính việc khan hiếm nguồn lực và việc sử dụng chúng có tính chất cạnh tranh nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của xã hội đặt ra là cần phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực.
Hiệu quả hoạt động kinh doanh không chỉ là thước đo trình độ tổ chức quản lý kinh doanh mà còn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp. Tuy nhiên tùy thuộc vào cách tiếp cận và mục đích nghiên cứu mà có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả hoạt động kinh doanh. Vào thế kỷ XVIII, nhà kinh tế học người anh Adam Smith (1723-1790) cho rằng: Hiệu quả hoạt động kinh doanh là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa. Nếu cùng một một kết quả kinh doanh nhưng có 2 mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này của Adam Smith thì chúng có cùng hiệu quả.
Như vậy là đã đồng nhất hiệu quả kinh doanh với kết quả kinh doanh. Tiếp theo sau quan điểm trên, Alfred Marshall (1842-1924) cho rằng, hiệu quả hoạt động kinh doanh là quan hệ giữa tỷ lệ phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí. Quan điểm này đã biểu hiện quan hệ so sánh tương đối giữa kết quả đạt được và chi phí đã tiêu hao, chỉ xét đến phần kết quả bổ sung và chi phí bổ sung. A Samuelson và Nordhaus, Nhà kinh tế học nổi tiếng người Hoa Kỳ, trong cuốn sách về kinh tế học ông viết: Hiệu quả kinh doanh tức là sử dụng một cách hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế để thỏa mãn nhu cầu mong muốn của con người.
Như vậy theo P. A Samuelson và Nordhaus, đánh giá hiệu quả thông qua LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nguồn lực của nền kinh tế nhưng chưa cho biết các đại lượng cụ thể nào để xác định hiệu quả. Ở nước ta, nhiều nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh cho rằng, hiệu quả hoạt động kinh doanh được đo bằng hiệu số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Theo tác giả Bùi Xuân Phong: hiệu quả hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp nhằm đạt được kết quả của mục tiêu hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực kinh doanh.
Quan điểm này cho rằng, hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là trước đo chất lượng phản ánh trình độ tổ chức, quản lý kinh doanh để thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Còn theo tác giả Nguyễn Tiến Mạnh: Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế khách quan phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt mục tiêu xác định. Quan điểm này gắn hiệu quả hoạt động với cơ sở lý luận kinh tế hiện đại là nền kinh tế của mỗi quốc gia được phát triển đồng thời theo chiều rộng và chiều sâu. Phát triển kinh tế theo chiều rộng là huy động mọi nguồn lực vào sản xuất, phát triển theo chiều sâu là nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế.
Những quan điểm trên không chỉ thể hiện sự khác nhau về quan niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh mà còn thể hiện sự phát triển của lý thuyết về hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Có thể nhận thấy điểm chung nhất của các quan điểm nêu trên đều cho rằng hiệu quả kinh doanh là sự so sánh giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó, đồng thời hiệu quả kinh doanh còn thể hiện trình độ và khả năng sử dụng các nguồn lực trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ doanh nghiệp nào và là vấn đề bao trùm, xuyên suốt mọi hoạt động của doanh nghiệp, thể hiện chất lượng của toàn bộ công tác quản trị doanh nghiệp. Trong thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp cho thấy, tất cả những đổi mới về nội LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 dung, phương pháp và biện pháp áp dụng trong quản trị chỉ thực sự có ý nghĩa khi và chỉ khi tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh và hội nhập, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thị trước hết là hoạt động kinh doanh phải mang lại hiệu quả. Hiệu quả hoạt động kinh doanh càng cao, doanh nghiệp càng có điều kiện mở rộng và phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao đời sống người lao động, thực hiện tốt nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước. Vì vậy, hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải được xem xét một cách toàn diện và phải đặt trong mối quan hệ với hiệu quả chung của toàn bộ nền kinh tế: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Mối quan hệ giữa quy mô công ty và hiệu quả hoạt động Trong tài chính doanh nghiệp, phương pháp thường được sử dụng để phân tích tài chính là sử dụng các tỷ số khả năng sinh lợi và giá trị thị trường như những thước đo quan trọng của hiệu quả và hiệu suất tổng thể của doanh nghiệp (Tangen, 2003).
Quy mô của một doanh nghiệp là số lượng và khả năng cũng như năng lực sản xuất mà một doanh nghiệp có thể cung ứng hoặc số lượng và các loại dịch vụ mà doanh nghiệp có thể cung cấp đồng thời cho khách hàng. Quy mô của doanh nghiệp là một nhân tố chính trong việc xác định khả năng sinh lợi và giá trị thị trường của một doanh nghiệp vì tính kinh tế theo quy mô, điều này có thể được tìm thấy trong các quan điểm tân cố điển (Surajit và Saxena, 2009). Nó cho thấy rằng, trái ngược với các doanh nghiệp nhỏ, hàng hóa có thể được sản xuất với chi phí thấp hơn nhiều bởi các doanh nghiệp lớn hơn. Tương ứng với quan điểm này, có một mối quan hệ cùng chiều được kỳ vọng giữa quy mô doanh nghiệp và khả năng sinh lợi và giá trị thị trường (Tagen 2003).
Ngược lại, một số lý thuyết khác nói rằng các doanh nghiệp lớn chịu sự điều phối của các nhà quản lý theo các mục tiêu cá nhân và do đó hàm tối ưu hóa tiện ích quản lý có thể thay thế mục tiêu tối ưu hóa lợi ích doanh nghiệp. Để xác định sự thành công của một doanh nghiệp, khả năng sinh lợi và giá trị thì trường đóng một vai trò quan trọng. Khả năng sinh lợi là lượng tiền mà một doanh nghiệp có thể tạo ra với bất cứ nguồn lực nào mà doanh nghiệp có trong khi giá trị thị trường tỷ số giữa giá trị vốn hóa thị trường trên giá trị sổ sách LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 của tài sản doanh nghiệp. Mục tiêu cuối cùng cho bất kỳ tổ chức là tối đa hóa lợi nhuận và giá thị trường.
Do đó, các doanh nghiệp tìm kiếm lợi ích gắn liền với sự gia tăng lợi nhuận và giá trị thị trường (Agiomirgiannakis et al. Theo các lý thuyết (Berger và di Patti, 2006;. Majdumdar và Chhibber, 1999 và Capon cùng cộng sự, 2011) liên kết quy mô doanh nghiệp với lợi nhuận và giá trị thị trường theo hướng cùng chiều. Berger và di Patti (2006) thừa nhận rằng quy mô là một yếu tố quyết định quan trọng của hiệu quả hoạt động doanh nghiệp với lập luận rằng các doanh nghiệp lớn hơn thường đa dạng hóa hơn; quản lý tốt hơn và có khả năng chịu đựng rủi ro lớn hơn.
Mặt khác các doanh nghiệp nhỏ có thể gặp khó khăn hơn để giải quyết vấn đề thông tin bất đối xứng và do đó có thể thể hiện hiệu quả thấp hơn so với các doanh nghiệp lớn (Berger và di Patti, 2006). Theo Capon cùng cộng sự (2011), quy mô doanh nghiệp đóng một vai trò quan trọng đối với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp vì nhiều lý do. Một trong những nguyên nhân này là có thể xem quy mô như một đại diện cho nguồn lực doanh nghiệp. Vì các doanh nghiệp lớn hơn có nguồn lực tổ chức lớn hơn, chúng cung cấp cho các doanh nghiệp lớn các thiết bị tốt hơn để đạt được mục tiêu của họ (Capon cùng cộng sự.
Quy mô cũng có thể đại diện cho xác suất phá sản và biến động của các tài sản của doanh nghiệp. Nó giả định rằng các doanh nghiệp càng lớn thì càng khó thanh lý phá sản. Majdumdar và Chhibber (1997) cũng chỉ ra rằng các doanh nghiệp lớn hơn tạo ra hiệu suất cao hơn so với các doanh nghiệp nhỏ.