CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY FINTECH ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM 1. Hiệu quả hoạt động của các NHTM 1. Tổng quan các NHTM 1.
Khái niệm về NHTM Theo luật tổ chức tín dụng 1997, ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm NHTM, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác. Bên cạnh đó, theo Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM, NHTM là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật. Theo Peter S Rose: Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội, hay cũng đóng vai trò là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan thiếu. Vai trò của NHTM NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế: trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp cá nhân, tổ chức kinh tế muốn sản xuất, kinh doanh thì cần phải có vốn để đầu tư mua sắm tư liệu sản xuất, phương tiện để sản xuất kinh doanh…mà nhu cầu về vốn của doanh nghiệp, cá nhân. luôn luôn lớn hơn vốn tự có do đó cần phải tìm đến những nguồn vốn từ bên ngoài.
Mặt khác lại có một lượng vốn nhàn rỗi do quá trình tiết kiệm, tích luỹ của cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức khác. NHTM là chủ thể đứng ra huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi đó và sử dụng nguồn vốn huy động được cấp vốn 1 cho nền kinh tế thông qua hoạt động tín dụng. NHTM trở thành chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. NHTM là cầu nối doanh nghiệp và thị trường: để có thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị trường doanh nghiệp không những cần nâng cao chất lượng lao động, củng cố và hoàn thiện cơ cấu kinh tế, chế độ hạch toán kinh tế mà còn phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, đưa công nghệ mới vào sản xuất, tìm tòi và sử dụng nguyên vật liệu mới, mở rộng quy mô sản xuất một cách thích hợp.
Những hoạt động này đòi hỏi phải có một lượng vốn đầu tư lớn, nhiều khi vượt quá khả năng của doanh nghiệp. Do đó để giải quyết khó khăn này doanh nghiệp đến ngân hàng để xin vay vốn để thoả mãn nhu cầu đầu tư của mình. Thông qua hoạt động cấp tín dụng cho doanh nghiệp ngân hàng là cầu nối doanh nghiệp với thị trường. Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng cung cấp cho doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng về mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu của thị trường và từ đó tạo cho doanh nghiệp chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh.
NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế: Thông qua hoạt động thanh toán giữa các ngân hàng trong hệ thống, NHTM đã góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng cho lưu thông. Thêm vào đó, việc cấp tín dụng cho nền kinh tế NHTM đã thực hiện việc dẫn dắt các nguồn tiền, tập hợp và phân phối vốn trên thị trường, điều khiển chúng một cách hiệu quả và thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô. Cùng với các cơ quan khác, ngân hàng luôn được sử dụng như một công cụ quan trọng để nhà nước điều chỉnh sự phát triển của nền kinh tế. Hơn nữa, khi nhà nước muốn phát triển một ngành hay một vùng kinh tế nào đó thì cùng với việc sử dụng các công cụ khác để khuyến khích thì các ngân hàng thương mại luôn được sử dụng bằng cách yêu cầu các NHTM thực hiện chính sách ưu đãi trong đầu tư, sử dụng vốn như: giảm lãi suất, kéo dài thời hạn vay, giảm điều kiện vay vốn hoặc qua hệ thống NHTM thì nhà nước cấp vốn ưu đãi cho các lĩnh vực nhất định.
NHTM là cầu nối của nền tài chính quốc gia và nền tài chính quốc tế: Việc phát triển kinh tế ở các quốc gia luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là một bộ phận cấu thành nên sự phát triển đó. Vì vậy nền tài chính của mỗi quốc gia cũng phải hoà nhập với nền tài chính quốc tế và NHTM với các hoạt động của mình đã đóng góp vai trò vô cùng quan trọng trong sự hoà nhập này. Với các nghiệp vụ như thanh 2 Thư viện ĐH Thăng Long toán, nghiệp vụ hối đoái và các nghiệp vụ khác thì ngân hàng thương mại tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển. Thông qua hoạt động thanh toán, kinh doanh ngoại hối, quan hệ tín dụng với các NHTM nước ngoài, chúng đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế.
Hiệu quả hoạt động của NHTM Theo ECB (European Central Bank) (9/2010) hiệu quả hoạt động là khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững. Lợi nhuận thu được đầu tiên dùng dự phòng cho các khoản lỗ bất ngờ và tăng cường vị thế về vốn, rồi cải thiện lợi nhuận thu được trong tương lai thông qua đầu tư từ các khoản lợi nhuận giữ lại. Trong cuốn “Từ điển Toán kinh tế, Thống kê, Kinh tế lượng Anh – Việt” PGS.TS Nguyễn Khắc Minh cho hiệu quả hoạt động được hiểu là mức độ thành công mà các doanh nghiệp hoặc các ngân hàng đạt được trong việc phân bổ các đầu vào có thể sử dụng và các đầu ra mà họ sản xuất, đáp ứng mục tiêu đã định trước. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng cũng là một phạm trù kinh tế, phản ánh khả năng khai thác những nguồn lực đã có nhằm đạt được hiệu quả cao nhất với tổng chi phí thấp nhất.
Ngoài ra, nó còn được đánh giá một cách tổng quát qua tỷ lệ giữa lợi nhuận đối với tổng tài sản và vốn chủ sở hữu. Lợi nhuận phản ánh khả năng sinh lời của NHTM, nó được xác định qua số tiền thu về từ các hoạt động cho vay và đầu tư, từ khoản thu từ các dịch vụ, từ quy mô, chất lượng và giá trị của các tài sản có. Sự tồn tại và phát triển bền vững của ngân hàng sẽ được quyết định bởi hiệu quả hoạt động kinh doanh. Nếu NHTM nào kinh doanh có kết quả tốt thì uy tín của ngân hàng ấy sẽ được nâng cao, người gửi tiền sẽ an tâm và tin tưởng hơn, do vậy công tác huy động vốn của họ sẽ trở nên thuận tiện và hiệu quả.
Trên cơ sở nguồn vốn có được, các NHTM mới có khả năng phát triển được hoạt động kinh doanh, tạo ra mức lợi nhuận ngày càng cao để có điều kiện nâng cao chất lượng dịch vụ và thu hút khách hàng. Chính vì thế nên nhiều ngân hàng đã coi hiệu quả hoạt động kinh doanh là yếu tố quan trọng nhất của hoạt động tín dụng. Việc nghiên cứu hiệu quả kinh doanh của NHTM qua phân tích tỷ số phải được tiến hành qua các giai đoạn khác nhau mới hiểu rõ xu thế phát triển và tình hình hoạt động của ngân hàng. Đồng thời, việc phân tích cũng cần căn cứ vào thực tế kinh doanh của các ngân hàng đang hoạt động và đi sâu phân tích các yếu tố cấu thành chỉ tiêu phân tích giúp xác định nguyên nhân tăng giảm của các chỉ tiêu và dễ đưa ra các biện pháp giải quyết thích hợp.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM Hiệu quả hoạt động của các NHTM được đánh giá thông qua năng lực tài chính của ngân hàng, được thể hiện ở các chỉ tiêu được giới thiệu trong phần này và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của NHTM trong chương 3. NIM (Net Interest Margin): Tỷ lệ thu nhập lãi thuần. Công thức tính: 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑙ã𝑖 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 𝑇ỷ 𝑙ệ 𝑡ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑙ã𝑖 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 = 𝑥100 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 sinh 𝑙ờ𝑖 𝑡ừ 𝑙ã𝑖 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 Chỉ tiêu này đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi nguồn vốn có chi phí thấp; chỉ tiêu này cho biết liệu ngân hàng đã tối đa hóa các nguồn thu từ lãi và giảm thiểu chi phí từ lãi hay chưa. Tỷ lệ NIM càng cao, ngân hàng càng vận hành tốt các tài sản sinh lãi, thu nhập lãi càng cao và từ đó gia tăng lợi nhuận.
ROA (Return on Assets): Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản. Công thức tính: 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế 𝑅𝑂𝐴 = 𝑥100 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 Tỷ lệ này phản ánh hiệu quả kinh doanh trên một đơn vị tài sản có của ngân hàng, là thước đo hiệu quả đầu tư của ngân hàng vì mọi tài sản có đều là những khoản đầu tư sinh lãi mỗi ngày ngoại trừ tài sản là tiền mặt và tài sản cố định. Chỉ tiêu ROA giúp nhà quản trị thấy được khả năng bao quát của ngân hàng trong việc tạo ra thu nhập từ tài sản có. ROA cao biểu hiện cơ cấu tài sản của ngân hàng hợp lý, có sự điều phối linh hoạt giữa các khoản mục tài sản trước biến động của nền kinh tế.
Do vậy ROA còn phản ánh khả năng thích ứng của ban lãnh đạo ngân hàng trước những thay đổi chung của nền kinh tế. Để tăng ROA, các NHTM phải tìm cách gia tăng các khoản mục tài sản có sinh lời. Trong các khoản mục tổng tài sản thì cho vay là khoản đem lại lợi nhuận chủ yếu cho NHTM. Vì mục đích tối đa hóa lợi nhuận mà NHTM gia tăng khoản đầu tư tín dụng, mà đây là khoản chứa đựng nhiều rủi ro nhất.