Chương 1. Giới thiệu đề tài Chương 2. Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm Chương 3. Phương pháp nghiên cứu Chương 4.
Kết quả nghiên cứu Chương 5. Kết luận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 2. Dòng vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Giai đoạn hiện tại của phát triển kinh tế ở các quốc gia trên thế giới đều cho thấy dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong những yếu tố quan trọng cho sự phát triển kinh tế bền vững, chất lượng cao và cân bằng ở các quốc gia.
Do đó cần thiết phải thu hút FDI, đặc biệt quan trọng đối với các quốc gia đang phát triển và các nền kinh tế mới nổi, vì loại hình đầu tư này thúc đẩy những thay đổi cơ cấu của nền kinh tế, cho phép đảm bảo phát triển kinh tế bền vững cũng như cho phép nước nhận đầu tư tích hợp hiệu quả vào quá trình toàn cầu hoá. Theo đó, trong điều kiện hiện đại của vấn đề toàn cầu hoá và tăng cường dòng vốn trong nền kinh tế thế giới, các quốc gia phải cạnh tranh khốc liệt để thu hút đầu tư nước ngoài, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài. Theo OECD, đầu tư trực tiếp nước ngoài được định nghĩa là một loại đầu tư xuyên biên giới được thực hiện bởi một người dân trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) với mục tiêu thiết lập lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp) ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư trực tiếp. "Mối quan tâm trong dài hạn" được chứng minh khi nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% quyền biểu quyết của doanh nghiệp được nhận dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Một tiếng nói hiệu quả trong quản lý, được chứng minh bằng quyền sở hữu ít nhất 10%, ngụ ý rằng nhà đầu tư trực tiếp có thể ảnh hưởng hoặc tham gia vào việc quản lý doanh nghiệp; nó không đòi hỏi sự kiểm soát tuyệt đối bởi các nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, trong thập kỷ qua, nhiều nghiên cứu liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được tiến hành và các nghiên cứu này đang thể hiện các quan điểm khác nhau (một số quan điểm trái ngược nhau) đối với vấn đề hội nhập tài LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 chính toàn cầu của quốc gia và các kết quả có thể đạt được từ hội nhập đó. Trong bối cảnh này, một nghiên cứu đáng quan tâm là nghiên cứu của De Mello (De Mello, 1999), trong nghiên cứu này tác giả xác định hai kênh mà đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Thứ nhất, là kết quả của dòng vốn, FDI thúc đẩy sự chấp nhận các công nghệ mới trong quá trình sản xuất ở quốc gia nhận đầu tư.
Thứ hai, đầu tư trực tiếp nước ngoài cung cấp một sự chuyển giao kiến thức, cả về đào tạo lao động và tích lũy kỹ năng, cũng như thông qua việc giới thiệu các phương pháp quản lý chất lượng cao và hiệu quả hơn. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) (Đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế các vùng của Việt Nam, Nguyễn Minh Tiến, 2014) đã đưa ra vào năm 1977: đầu tư trực tiếp nước ngoài là số vốn đầu tư được thực hiện để thu lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư. Ngoài mục đích lợi nhuận, nhà đầu tư còn mong muốn dành được chỗ đứng trong việc quản lý doanh nghiệp và mở rộng thị trường’’. Một nghiên cứu khác được tiến hành bởi OECD xác nhận kết quả được tìm thấy bởi de Mello, cũng như khẳng định rằng đầu tư góp phần vào sự gia tăng hiệu quả của các yếu tố sản xuất và thu nhập của quốc gia.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng cả hai nghiên cứu đều nhấn mạnh một ý tưởng then chốt: tác động từ dòng vốn FDI phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và công nghệ ở nước nhận đầu tư. Vì vậy, các nghiên cứu mô tả ở trên cho rằng các nước đang phát triển cần đạt được một mức độ phát triển kinh tế nhất định để thu được lợi ích tiềm năng từ dòng vốn FDI. Trong nghiên cứu của Robert Lensink (Lensink và cộng sự, 2000) tác giả mô tả ba kênh mà dòng vốn FDI chảy vào quốc gia nhận đầu tư và cải thiện tăng trưởng kinh tế cũng như thúc đẩy phát triển kinh tế. Đầu tiên là "kênh cạnh tranh": sự cạnh tranh gia tăng trên thị trường giúp tăng hiệu quả và năng suất, cũng như đầu tư vào vốn con người và vật chất.
Hơn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 nữa, khi cạnh tranh gia tăng thì có thể khuyến khích những thay đổi tích cực trong cơ cấu của sản lượng công nghiệp theo hướng các ngành định hướng xuất khẩu. Kênh thứ hai là “chuyển giao kiến thức” thông qua đào tạo nhân viên ở quốc gia nhận đầu tư, cũng như thông qua việc giới thiệu các phương pháp quản lý hiệu quả và hệ thống kiểm soát chất lượng. Kênh phát triển thứ ba là “chuyển giao công nghệ” là kết quả của các giao dịch với các công ty nước ngoài. Theo khái niệm của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987: đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính Phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này.
Theo quan điểm về đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam ở quy định tại khoản 1 điều 2, Luật đầu tư nước ngoài được sửa đổi bổ sung năm 2000 “đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này”. Có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất cứ tài sản nào vào quốc gia đó để được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó với mục tiêu tối đa hoá lợi ích của mình. Lý thuyết nơi ẩn giấu ô nhiễm Theo giả thuyết nơi ẩn giấu ô nhiễm (pollution haven hypothesis), các công ty đa quốc gia thường có khuynh hướng đặt các cơ sở sản xuất của họ ở các quốc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 gia có các tiêu chuẩn môi trường thoải mái hoặc yếu kém (Kim và Adilov, 2012). Điều này trở nên đặc biệt quan trọng trong trường hợp các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh ở các ngành nghề có ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng môi trường của quốc gia nhận đầu tư chẳng hạn như các ngành hóa dầu, sản xuất giấy và thép.
Mặt khác, nếu như quốc gia sở tại yêu cầu các công ty đa quốc gia tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt thì điều này sẽ làm gia tăng chi phí hoạt động của các công ty, do đó, các công ty có khuynh hướng di chuyển cơ sở sản xuất đến các quốc gia có yêu cầu tiêu chuẩn môi trường thoải mái hoặc ít nghiêm ngặt hơn với giả định rằng các công ty này nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận (javorcik và Wei, 2004). Hơn thế nữa, các nước đang phát triển có xu hướng bỏ qua hoặc xem nhẹ những lo ngại về môi trường bằng cách giảm hoặc nới lỏng các tiêu chuẩn môi trường ở các quốc gia này để thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Zhu và các cộng sự, 2016). Do đó, so với các quốc gia đã phát triển, các quốc gia đang phát triển thường có các tiêu chuẩn môi trường yếu hơn hoặc ít nghiêm ngặt hơn và bằng cách thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, các quốc gia này có thể đang gián tiếp “thu hút” ô nhiễm môi trường (Kim và Adilov, 2012). Về mặt lý thuyết, có thể thấy rằng các quốc gia có tiêu chuẩn môi trường ít nghiêm ngặt hoặc yếu kém thường thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, mặc dù về mặt nghiên cứu thực nghiệm thì cho thấy các bằng chứng khác nhau có liên quan đến giả thuyết nơi ẩn giấu ô nhiễm (Javorcik và Wei, 2004).
Theo đó, có ba điểm quan trọng trong giả thuyết nơi ẩn giấu ô nhiễm. Đầu tiên, như đã đề cập trong phần đầu của chương này, các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh ở các ngành nghề có ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng môi trường của quốc gia nhận đầu tư sẽ di dời cơ sở sản xuất của họ từ các quốc gia có các tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt sang các quốc gia có tiêu chuẩn môi trường ít nghiêm ngặt hơn. Sự di dời này cũng được khuyến khích bởi sự tự do hóa thương mại toàn cầu (Aliyu, 2005). Thứ hai, các chất thải nguy hại ở các quốc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 gia đang phát triển được tạo ra từ các quốc gia đã phát triển chẳng hạn như sản xuất công nghiệp và năng lượng hạt nhân.
Thứ ba, việc khai thác tài nguyên thiên nhiên không tái tạo một cách không hạn chế ở các quốc gia đang phát triển. Các tài nguyên này được các công ty đa quốc gia sử dụng trong quá trình sản xuất của họ để sản xuất dầu khí hoặc các sản phẩm có liên quan đến dầu khí. Những điểm này tương đối quan trọng với các nhà hoạch định chính sách khi đưa ra các quyết định chính sách môi trường (Aliyu, 2005). Kim và Adilov (2012) đã kiểm định thực nghiệm tính hợp lý của giả thuyết nơi ẩn giấu ô nhiễm cũng như giả thuyết vành ô nhiễm (pollution halo hypothesis) bằng cách giải thích ảnh hưởng của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến lượng khí thải CO2 ở các quốc gia trên thế giới.
Các tác giả đã thu thập dữ liệu khí thải CO2 từ bộ dữ liệu Các chỉ tiêu phát triển Thế giới (WDI) của Ngân hàng Thế giới (WB).