Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu. Chương này trình bày lý do chọn đề tài, các mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, mô tả tổng quát các phương pháp áp dụng, ý nghĩa và điểm mới của đề tài, bố cục nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước về nguồn vốn FDI và tác động của FDI đến việc làm. Chương này trình bày nền tảng lý thuyết, nêu mối liên hệ của FDI và việc làm, nêu những nghiên cứu trước có liên quan.
Xây dựng mô hình nghiên cứu, quy trình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày về xây dựng bảng dữ liệu, cách thức thu thập dữ liệu nghiên cứu và trình bày phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương này trình bày kết quả phân tích định lượng xem xét sự tác động của FDI đến việc làm tại các địa phương ở Việt Nam và lựa chọn mô hình thích hợp để diễn giải kết quả. Từ đó kết luận chấp nhận hay bác bỏ các giả thuyết đã xây dựng. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Trên cơ sở phân tích Chương 4, tác giả đề xuất kiến nghị để FDI tăng cường tác động tích cực đến việc làm cũng như hàm ý quản trị nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam.
Đồng thời cũng nêu những đóng góp, hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VỀ NGUỒN VỐN FDI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA FDI ĐẾN VIỆC LÀM 2.1 Các khái niệm có liên quan 2.1Khái niệm lao động Lao động là hoạt động có ý thức của con người, đó là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động cải biến nó tạo ra sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu của mình và xã hội. Theo Tổng cục Thống kê (2016), lực lượng lao động bao gồm những người từ 15 tuổi trở lên có việc làm (đang làm việc) và những người thất nghiệp trong thời kỳ tham chiếu (07 ngày trước thời điểm quan sát). Số lao động trong nền kinh tế: Số người có việc làm gồm những người từ 15 tuổi trở lên trong thời kỳ 07 ngày tham chiếu làm việc được trả lương, trả công hoặc những người từ 15 tuổi trở lên trong thời kỳ tham chiếu tự làm hoặc làm chủ.2 Khái niệm việc làm Việc làm là một trong những vấn đề cơ bản nhất của mọi quốc gia nhằm góp phần bảo đảm sự an toàn, ổn định và phát triển của xã hội.
Vì vậy, việc mở rộng việc làm là một trong những nội dung cơ bản nhất trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các nước trên thế giới. Điều 13, Bộ Luật Lao động Việt Nam (2012) quy định: “Mọi hoạt động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. Trên thực tế việc làm nêu trên được thể hiện dưới 3 hình thức: - Một là, làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc hiện vật. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Hai là, làm công việc để thu lợi cho bản thân mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu tư liệu sản xuất để tiến hành công việc đó.
- Ba là, làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó. Bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý. Nguyễn Thúy Hà (2013), cho rằng “Việc làm là nhu cầu cơ bản của con người để đảm bảo cuộc sống và sự phát triển toàn diện, nó có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, không thể thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong các hoạt động kinh tế, nó có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội, chi phối toàn bộ hoạt động của cá nhân và xã hội”.2 Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 2.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) (1997), FDI là “một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó, một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó”.
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) (2008), “FDI là một loại đầu tư phản ánh mục tiêu của việc thiết lập mối quan tâm lâu dài của một doanh nghiệp thường trú tại một nền kinh tế (đầu tư trực tiếp) trong một doanh nghiệp (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp) là cư dân trong một nền kinh tế khác hơn so với đầu tư trực tiếp. Sự quan tâm lâu dài ngụ ý sự tồn tại của một mối quan hệ lâu dài giữa các nhà đầu tư trực tiếp và các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp và một mức độ đáng kể ảnh hưởng đến việc quản lý của doanh nghiệp. Quyền sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp của 10% quyền biểu quyết của một doanh nghiệp trong một nền kinh tế bởi một nhà đầu tư trong nền kinh tế khác là bằng chứng của một mối quan hệ như vậy”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc (1996) cho rằng, FDI là “một sự đầu tư thực hiện để có được lợi ích lâu dài trong doanh nghiệp hoạt động bên ngoài của nền kinh tế của nhà đầu tư.
mục đích của chủ đầu tư là để đạt được một tiếng nói hiệu quả trong việc quản lý của doanh nghiệp”. Theo Luật Đầu tư năm 2005 (tại Điều 3), “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”, “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư”. Theo tác giả Nguyễn Thị Huyền Trang (2017), “FDI là hình thức đầu tư trực tiếp và chủ đầu tư là cá nhân hay tổ chức của một quốc gia đưa vốn là tiền hay tài sản cố định như máy móc, trang thiết bị công nghệ hiện đại và nhiều khoản đầu tư khác đầu tư tại một quốc gia nào đó. Đồng thời, các nhà đầu tư sẽ nắm giữ quyền sở hữu, quản lý và kiểm soát hoạt động đầu tư tại quốc gia tiếp nhận đầu tư với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận”.
Theo tác giả Phan Thị Quốc Hương (2015), “FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật”.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo Luật Đầu tư Việt Nam (2014), FDI được thực hiện dưới các hình thức: - Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng là hình thức nhà đầu tư và nước nhận được đầu tư sẽ ký hợp đồng hợp tác kinh doanh. Theo hình thức đầu tư này nhà đầu tư nước ngoài là người cung cấp phần lớn hoặc toàn bộ nguồn vốn đầu tư. Bên nhận đầu tư sẽ đóng góp đất đai, nhà xưởng hoặc có thể góp một phần vốn. - Doanh nghiệp liên doanh, theo hình thức này doanh nghiệp được hình thành do sự góp vốn của các bên thuộc nước đầu tư và nước nhận đầu tư.
Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 pháp nhân theo luật pháp nước nhận đầu tư. Mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm đối với bên kia, với doanh nghiệp liên doanh trong phạm vi phần vốn của mình trong vốn pháp định. Tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài do các bên thỏa thuận. Đối với nước chủ nhà, hình thức đầu tư này cho phép tranh thủ vốn từ bên ngoài, khai thác được lợi thế của nước sở tại về lao động và tài nguyên.
Nước tiếp nhận đầu tư có điều kiện tiếp nhận khoa học công nghệ tiên tiến, có thể nâng cao được chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Ngoài ra, hình thức đầu tư này cho phép nước chủ nhà tiếp thu kinh nghiệm quản lý sản xuất kinh doanh, bí quyết marketing của nhà đầu tư nước ngoài, nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ của nước sở tại. - Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân theo luật pháp của nước chủ nhà và là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài) do nhà đầu tư nước ngoài thành lập, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài cũng là loại hình mà nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn, nên nước sở tại không phải bỏ vốn và thực hiện công tác quản lý trực tiếp mà vẫn thu được lợi từ các khoản thu thuế và giải quyết việc làm cho lao động.3 Các lý thuyết chính của FDI 2.1 Lý thuyết nội hóa Buckley và Casson (1976) đưa ra một giải thích khác về FDI bằng việc nhấn mạnh vào công nghệ và quản lý.
FDI là hình thức liên kết dọc và ngang trong mối liên hệ chia sẻ về tri thức, giảm chi phí giao dịch cho thị trường không hoàn hảo mang lại và nội hóa các sản phẩm trung gian. Buckley và Casson cho rằng lý thuyết nội hóa dựa trên 3 điều kiện: (i) Các công ty tối đa hóa lợi nhuận trong điều kiện thị trường không hoàn hảo; (ii) Các công ty giao dịch nội bộ với nhau khi thị trường sản phẩm trung gian không hoàn hảo; (iii) Thị trường nội bộ rộng khắp thế giới tập trung vào các công ty đa quốc gia. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 FDI giúp các công ty đa quốc gia bảo vệ tài sản trí thức, tăng thị phần quốc tế và tránh rủi ro trong giao dịch thông qua “nội hóa” các giao dịch thương mại quốc tế. Một công ty có xu hướng nghiên cứu và phát triển có thể tạo ra nguồn lực, quy trình quản lý hoặc công nghệ mới.