CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trong một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý doanh nghiệp (IMF, 2003). Kể từ sau chính sách “Đổi mới” của năm 1986, Việt Nam đã trải qua quá trình tăng trưởng kinh tế; cùng với xuất khẩu, đầu tư trực tiếp nước ngoài được coi là đóng góp đáng kể vào sự phát triển gần đây của nền kinh tế Việt Nam. Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam (LFI) đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút một lượng đáng kể của nguồn vốn FDI vào Việt Nam.
Nghiên cứu kinh tế về FDI thường tập trung vào yếu tố quyết định của FDI đó là làm thế nào để thu hút FDI đến Việt Nam, đây có thể xem như một vấn đề trung tâm của các mối quan tâm trong nhiều nghiên cứu. Ngoài ra, việc phân tích những tác động của FDI nhằm mục đích sử dụng nguồn vốn FDI hiệu quả hơn cũng khá quan trọng trong quá trình phát triển đất nước. Tuy vậy, các nghiên cứu về vấn đề này đối với trường hợp của Việt Nam vẫn còn khiêm tốn. FDI có thể được sử dụng như một phương tiện để thúc đẩy tăng trưởng năng suất (Bitzer và Görg, 2004).
Bên cạnh đó, FDI có thể mang lại sự chuyển giao công nghệ mới cho các nước đang phát triển, đồng thời FDI có thể cải thiện kiến thức và kỹ năng của người quản lý hoặc người lao động, FDI cũng có thể nâng cao hiệu quả và năng suất trong sản xuất (Mansfield và Romeo, 1980). Hầu hết các nghiên cứu về tác động của FDI thường tập trung vào tác động lan tỏa năng suất (vốn hoặc công nghệ). Trong những năm gần đây, một cách tiếp cận mới về lan tỏa vốn và công nghệ đã được giới thiệu trong một số công trình thực nghiệm trên thế giới. Nghiên cứu của Görg và Strobl (2004) điều tra các cơ chế truyền tải và các kênh mà qua đó những yếu tố bên ngoài tác động vào sự tồn tại của các doanh nghiệp trong nước.
Đây là một chủ đề quan trọng vì sự tồn tại của các doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế có ảnh hưởng đến phúc lợi xã hội trong nền kinh tế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Việt Nam đã thay đổi sang nền kinh tế theo định hướng thị trường từ năm 1986 và gia nhập khối ASEAN vào tháng 7 năm 1995, hoàn thành chương trình tự do hóa thương mại trong Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) vào tháng 1 năm 2006. Ngoài ra, kể từ khi tham gia vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 1991, Việt Nam đã được chấp nhận là thành viên đầy đủ chính thức gia nhập WTO vào năm 2007. Chính phủ Việt Nam thực hiện mục tiêu thu hút vốn và công nghệ cao từ các quốc gia như Mỹ, EU, Nhật Bản,.với hy vọng quá trình chuyển giao công nghệ sẽ đóng góp tốt hơn cho các doanh nghiệp trong nước thông qua nguồn vốn FDI.
Tuy vậy, trên thực tế theo số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước trong năm 2013 đạt 250,93 tỷ USD, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm 2012. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 125,79 tỷ USD, tăng 15,4%, xuất siêu 650 triệu USD. Kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp FDI đạt 77,3 tỷ USD, chiếm 61,44% tổng kim ngạch xuất khẩu. Dựa vào những các con số, có thể thấy rằng các doanh nghiệp Việt Nam đang “lép vế” trên lĩnh vực xuất khẩu linh kiện điện tử, máy ảnh, dệt may.
Theo đó, với máy vi tính, linh kiện và hàng điện tử, doanh nghiệp FDI đóng góp 98,2%; giày dép chiếm 77,4%, hàng dệt may chiếm 60%, máy ảnh lên tới 99,6%.1: Số doanh nghiệp gặp khó khăn, giải thể và ngừng hoạt động năm 2013 (tăng giảm so với 2012) Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu Tổng cục thống kê (2013) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Theo báo cáo của Tổng cục thống kê và Bộ Kế hoạch Đầu tư thì trong năm 2013, số doanh nghiệp gặp khó khăn phải giải thể hoặc ngừng hoạt động là 60.737 doanh nghiệp, tăng 11,9% so với năm 2012 (Hình 1. Năm 2011 mỗi tháng có 4.498 doanh nghiệp giải thể và tạm ngừng hoạt động, đến năm 2012 là 4.517 doanh nghiệp và bình quân 5 tháng đầu năm 2013 là 4. Một thực tế cho thấy, từ năm 2007 đến nay tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta chậm lại, trong khi hàng vạn doanh nghiệp trong nước kinh doanh kém hiệu quả và phải ngừng hoạt động thì FDI vẫn đang được xem là động lực tăng trưởng, vận hành tốt và điều này đã làm nảy sinh vấn đề cần quan tâm, đó là hoạt động của doanh nghiệp FDI có lấn át doanh nghiệp trong nước và cần làm gì để giải quyết vấn đề này? Để tìm được câu trả lời đúng, cần có cách tiếp cận khoa học đối với chủ trương thu hút FDI của nước ta. Nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã có những nghiên cứu về tác động của FDI đối với các doanh nghiệp trong nước (cụ thể là tìm hiểu về tác động lan tỏa và tác động lấn át), như nghiên cứu của Görg và Greenaway (2003), Bloomstrom và Kokko (1997), Ferragina, Pittiglio và Reganati (2009), Aitken và Harrison (1999), Franco và Gelübcke (2013)… Những nghiên cứu này đã tìm hiểu về sự tác động của FDI đối với các doanh nghiệp trong nước đối với những quốc gia khác nhau, các kết luận cho thấy có sự khác biệt về sự tác động của FDI đối với các doanh nghiệp trong nước bao gồm cả tác động lan tỏa và tác động lấn át.
Nghiên cứu này thực hiện một phân tích thực nghiệm về việc liệu rằng sự hiện diện của dòng vốn FDI có ảnh hưởng tiêu cực đến sự tồn tại của doanh nghiệp trong nước, khi mà qui mô và năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp trong nước còn chưa cao. Tác giả cho rằng nếu tồn tại sự gia tăng năng suất của các doanh nghiệp trong nước thông qua hiệu ứng lan tỏa công nghệ do đầu tư nước ngoài mang lại sẽ làm giảm chi phí trung bình các doanh nghiệp trong nước sản xuất. Tuy nhiên , một mặt khác thì sự có mặt của dòng vốn FDI cũng có thể có tác động tiêu cực đến những hoạt động và sự sống còn của các doanh nghiệp trong nước, FDI có thể gây nên tác động lấn át (crowding out effect) đối với những doanh nghiệp này. Một số ý kiến lo ngại về tác động tiêu cực của FDI tới tăng trưởng kinh tế, cho rằng sự xuất hiện của doanh nghiệp có vốn FDI có thể gây cạnh tranh khốc liệt với các doanh nghiệp trong nước mà phần thua thiệt thường LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 là các doanh nghiệp trong nước.
Các doanh nghiệp trong nước bị mất thị trường, mất lao động có kỹ năng và vì vậy có thể dẫn đến phá sản. Ngoài ra, vốn FDI có thể làm cho đầu tư trong nước bị thu hẹp do nhiều doanh nghiệp bị mất cơ hội đầu tư hoặc đầu tư không hiệu quả do trình độ công nghệ thấp kém, vốn ít (Nguyễn Thị Tuệ Anh và cộng sự, 2006). Đối với Việt Nam, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu định lượng nào thực sự rõ ràng nhằm chỉ ra được sự tác động lấn át của FDI đối với các doanh nghiệp trong nước mà chủ yếu là các nghiên cứu về lan tỏa năng suất và tăng trưởng. Do vậy, nghiên cứu này sẽ cụ thể hóa bằng cách xác định xem sự hiện diện nước ngoài thể hiện thông qua dòng vốn FDI có tác động tích cực hay tiêu cực đến sự sống còn của doanh nghiệp trong nước.
Các nghiên cứu trước đây về tác động của FDI trên bối cảnh của từng địa phương đã tập trung vào tác động lan tỏa năng suất (công nghệ hoặc bằng tiền) trên việc phân tích các yếu tố quyết định đến thu hút FDI. Với cách tiếp cận khác, nghiên cứu này đánh giá về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự rời ngành1 của các doanh nghiệp ở Việt Nam thông qua những số liệu cụ thể. Chủ đề này khá thích hợp cho Việt Nam khi thực trạng hiện nay là số doanh nghiệp trong nước đóng cửa khá cao và vai trò ngày càng tăng của dòng vốn FDI trong những năm qua. Nghiên cứu cố gắng đánh giá một mặt khác ngoài tác động lan tỏa năng suất và tìm hiểu các yếu tố bên trong cũng như bên ngoài tác động đến sự tồn tại của các doanh nghiệp trong nước.
Đây là một chủ đề quan trọng vì sự sống còn của các doanh nghiệp trong nước có liên quan đến công việc của lao động và cả những vấn đề có ảnh hưởng đến phúc lợi xã hội trong nền kinh tế. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm điều tra tác động của FDI vào các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ ở Việt Nam, xem xét tác động của sự hiện diện các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đối với sự sống còn của các doanh nghiệp trong nước và từ đó đề xuất những hàm 1 Markusen và Venables (1999) cung cấp một trong những mô hình chính thức đầu tiên mà kết hợp tác động khác nhau. Họ cho rằng FDI tạo ra một hiệu ứng cạnh tranh, tác động mạnh mẽ trong thị trường hàng hóa cuối cùng và sẽ dẫn đến giá thị trường thấp hơn, điều này có thể buộc doanh nghiệp trong nước kém hiệu quả rời khỏi thị trường, tác động này được xem là sự rời ngành của doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 ý chính sách nhằm giảm tác động tiêu cực (nếu có) của FDI đối với các doanh nghiệp trong nước.
Nghiên cứu tập trung trả lời hai câu hỏi: Câu hỏi 1: Sự xuất hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong ngành tác động đến việc rời ngành (firm exit) của các doanh nghiệp trong nước như thế nào? Câu hỏi 2: Những gợi ý chính sách nào để giảm tác động tiêu cực từ FDI đối với sự rời ngành doanh nghiệp trong nước? 1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu về tác động của FDI đến sự tồn tại của các doanh nghiệp trong nước tại Việt Nam. Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề đó là cơ sở lý thuyết về FDI và tác động lấn át của FDI đối với các doanh nghiệp trong nước.