Chương 1 TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Xây dựng cơ sở lý luận có liên quan đến van dé nghiên cứu là một nhiệm vụ rat quan trọng dé từ đó luận giải những nội dung khác của luận án. Vì vậy, chương này sẽ phân tích, làm rõ những tài liệu quan trọng liên quan đến lý luận về mạng xã hội, mạng xã hội Facebook, vai trò của mạng xã hội trong học tập, đời sống của sinh viên cùng nhiều tài liệu đáng chú ý khác có liên quan đến đề tài luận án. Các nghiên cứu tong quan về mạng xã hội, mạng xã hội Facebook, và những ảnh hưởng của mạng xã hội, mạng xã hội Facebook 1. Nghiên cứu tổng quan về mạng xã hội và mạng xã hội Facebook Mạng xã hội, từ khi ra đời và phát triển đến nay, do sức ảnh hưởng của nó, luôn là chủ đề được các nhà nghiên cứu ở nhiều quốc gia trên thế giới tìm hiểu, phân tích ở dưới nhiều góc độ, quan điểm khác nhau.
Có thé nhận thấy, ngoài các nghiên cứu về mặt công nghệ, các nghiên cứu về mạng xã hội trên thế giới và Việt Nam còn tập trung vào nhiều van đề da dạng khác liên quan đến đời sống kinh té- xã hội. Một điều cần lưu ý, trong các nghiên cứu về mạng xã hội luôn có sự so sánh, đối chiếu các biến tương ứng của từng trang mạng xã hội khác nhau. Do các nghiên cứu về mạng xã hội và mạng xã hội Facebook rất đa dạng, nên trong nội dung dưới đây, chúng tôi sẽ tập trung tìm hiểu tình hình nghiên cứu có liên quan nhiều đến đề tài luận án. Đứng từ góc nhìn của nghiên cứu truyền thông, mạng xã hội có thể được coi là một trong những kênh truyền thông rất phát triển hiện nay.
Hiệu quả truyền thông qua mạng xã hội so với nhiều kênh truyền thông truyền thống là điều không thê phủ nhận, được chỉ ra trong nhiều kết quả nghiên cứu. Bài viết Pháp luật về truyền thông qua mạng xã hội, qua thực tiên truyền thông tuyển sinh tại Trường 13 Đại học Luật, Dai học Huế (2021) của tác giả Ngô Minh Tiến và Đỗ Thị Quynh Trang chỉ rõ: “Khác với các công cụ truyền thông truyền thống, truyền thông mạng xã hội đem lại cho các nhà quảng cáo ba lợi ích chính như sau: Thứ nhất, nó cung cấp một kênh thông tin hai chiều, một chiều dé trưng bày, quảng cáo các sản phẩm, dịch vụ tới khách hàng, đồng thời cũng là kênh phản hồi, góp ý và đề xuất ý tưởng của khách hàng tới nhà sản xuất. Thứ hai, mạng xã hội giúp các nhà quảng cáo nhận biết một cách dễ dàng hơn các nhóm khách hàng khác nhau, hoặc các ảnh hưởng tới các nhóm khách hàng, những người đóng vai trò lớn trong việc xây dựng và quảng bá thương hiệu. Thứ ba, chi phí cho hoạt động truyền thông xã hội được giảm di đáng kế (so với chi phí cho các hoạt động quảng cáo truyền thống) do hau hết các trang mang xã hội có thé sử dụng miễn phí [.] Với nhiều ưu thé như đã ké trên, hoạt động này đã nhanh chóng vượt qua hình thức truyền thống dé trở thành thành phan chính yếu trong chiến lược của tổ chức, doanh nghiệp từ nhiều năm nay và sẽ tiếp tục là một ngành phát triển lớn mạnh hơn trong tương lai.
Tuy nhiên, hiệu quả truyền thông của mạng xã hội không xuất hiện đồng nhất với tat cả những nhóm chủ thé tham gia không gian số. Công trình chuyên khảo Phép đạc tam giác về vốn xã hội của người Việt Nam: Mạng lưới quan hệ- lòng tin-sự tham gia (2015) do Nguyễn Quý Thanh chủ biên đã nhận diện một sỐ nhóm chủ thê chính tham gia không gian mạng xã hội gồm: Nhóm | - Người theo dõi thầm lặng; Nhóm2 - Người nhắn nút “like” (hay còn gọi là “người like dao”); Nhóm 3 - Nhóm giao dịch; Nhóm 4 - Nhóm bat mãn; Nhóm 5 - Nhóm chống đối, nói xau tiêu cực; Nhóm 6 — Nhóm thủ lĩnh; Nhóm 7 - Người hâm mộ trung thành; Nhóm 8 - Nhóm tìm kiếm thông tin; Nhóm 9 - Nhóm giải trí; Nhóm 10 - Nhóm kết bạn [95, tr. Điều quan trọng rút ra từ việc phân loại này là cần xác định rõ những nhóm chủ thé nào mà hoạt động truyền thông hướng đến dé từ đó có những chiến lược, cách thức truyền thông phù hợp. 14 Với sự phát triển rất nhanh chóng của các mạng xã hội những năm gan đây, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về mạng xã hội và vai trò của mạng xã hội, trong đó có Facebook, đến đời sống con người.
về nghiên cứu trong nước, một số nghiên cứu gần đây đã đề cập trực tiếp tới tổng quan tình hình nghiên cứu về mạng xã hội ở Việt Nam và trên thế giới, đây là nguồn tham khảo rất có giá trị đối với đề tài. Công trình Các nghiên cứu về mạng xã hội trên thể giới và Việt Nam (2021) của tác giả Phạm Thị Huyền Trang phân tích một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về mạng xã hội. Tác giả nhận định trong khi các nhà nghiên cứu nước ngoài đã có nhiều công trình nghiên cứu về mạng xã hội, tập trung vao nhóm đối tượng là học sinh và sinh viên; thì tại Việt Nam, các nghiên cứu thường sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, hoặc phương pháp quan sát thiên về cảm tính. Từ đó, tác giả khăng định, nghiên cứu tại Việt Nam nói chung về mạng xã hội chưa nhiều, nghiên cứu về mạng xã hội với sinh viên còn rất ít, đặt ra yêu cầu phải có thêm nhiều nghiên cứu chuyên sâu và chất lượng hơn nữa về chủ đề này [106, tr.
Một nghiên cứu khác mang tính định lượng và chuyên sâu về mạng xã hội gan đây can được đề cập là Luận án tiến sĩ Mô hình hành vi và quan tâm của người dùng trên các mạng xã hội (2021) của tác giả Nguyễn Thị Hội. Đề đánh giá và kiểm nghiệm các mô hình đề xuất, luận án này đã thực hiện thu thập dữ liệu từ 03 nguồn dữ liệu chính là các mạng xã hội Facebook, Twitter và YouTube. và mặt lý thuyết, luận án này đã tiếp tục làm rõ hơn một số khái niệm như mạng xã hội, dữ liệu trên mạng xã hội, người dùng và cộng đồng người dùng trên mạng xã hội, chủ đề và quan tâm của người dùng trên mạng xã hội. Cùng với đó, những đóng góp quan trọng khác của luận án là: mô hình hóa bài viết của người dùng trên các mạng xã hội và phân loại các bài viết theo các chủ đề; mô hình hóa các chủ đề dựa trên danh sách từ đặc trưng và biéu diễn dưới dạng véctơ đặc trưng; mô hình hóa người dùng trên các mạng xã hội và phân loại các người dùng theo các chủ đề; xác định môi tương quan giữa quan tâm của người dùng trên các mạng xã hội với các 15 hành vi cua họ (thực hiện so sánh và ước lượng giữa độ tương tự theo người dùng dựa trên các hành vi và độ tương tự của người dùng dựa trên các chủ đề quan tâm của họ); chỉ rõ được mối tương quan giữa các chủ đề quan tâm và hành vi mà người dùng thực hiện trên các mạng xã hội.
6-7] Bài viết Tình hình sử dụng mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay: Một số vấn đề đặt ra và giải pháp của Trần Tân Tới, Nguyễn Hoàng Nhạc, Võ Văn Hải Đăng (2022) khẳng định vi trí, vai trò lớn cua mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay. Theo các tác giả, “việc sử dụng mạng xã hội hiện nay của người dân nước ta đạt được những con số khá ấn tượng.] Về thống kê mạng xã hội cho Việt Nam. Có 72 triệu người dùng mạng xã hội tại Việt Nam vao thang 01 năm 2021. Số người sử dụng phương tiện truyền thông xã hội tại Việt Nam tăng 7 triệu (+ 11%) giữa năm 2020 và 2021” [104, tr.
Với mức độ phổ biến như vậy, các tác giả khang định, “mạng xã hội có ảnh hưởng ngày càng lớn đến đời sống con người và sự phát triển đất nước. Những năm gan đây, cùng với sự phát triển của xã hội, công nghệ thông tin nói chung, mạng xã hội đang ảnh hưởng rất lớn, cả tích cực và tiêu cực đến mọi hoạt động và sinh hoạt của con người, nhất là giới trẻ. Với đặc điểm nổi trội là tính kết nỗi nhanh, chia sẻ rộng, chỉ cần một chiếc điện thoại hay một máy tính kết nối Internet, chúng ta có thé truy cập và tham gia vào rất nhiều trang mạng như: Facebook, Zalo, Youtube, Twitter, Tiktok. Mặc dù mục đích, cach thức, mức độ tham gia các trang mạng xã hội của mỗi người khác nhau nhưng có một điểm chung đó là xem nó như là một phan không thé thiếu trong đời sống tinh thần của con người” [104, tr.
Nhiều công trình nước ngoài đã tiếp cận nghiên cứu các khía cạnh lý thuyết khác nhau về mạng lưới xã hội (social network) như: Social Networking and Community Behavior Modeling: Qualitative and Quantitative Measures (Mô hình hóa hành vi cộng đồng và mạng xã hội: Các biện pháp định tính và định lượng) (2012) của Maytham Safar va Khaled Mahdi; A tutorial on modeling and analysis of dynamic social networks (Hướng dẫn lập mô hình và phân tích mạng lưới xã 16 hội động) (2017) của Proskurnikov, A.,; The Impact of Social Structure on Economic Outcomes (Tác động của cau trúc xã hội đến kết quả kinh tế) (2018) của Granovetter, M. Với những kết quả nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh mức độ phát trién không ngừng của mạng xã hội hiện đại trong môi trường ảo và trực tuyến cũng như cộng đồng ảo. Đây chính là những nội dung có liên quan trực tiếp tới mạng xã hội trực tuyến, trong đó có Facebook, mà đề tài này quan tâm. Trong sự phát triển đa dạng của nhiều loại phương tiện truyền thông và mạng xã hội nói chung, Facebook là trang mạng xã hội được xem là một trong những phương tiện pho biến nhất, được nhiều người sử dụng nhất trên thế giới nói chung (hơn 2,9 tỷ người dùng) [190] và Việt Nam nói riêng (hơn 70,4 triệu người dùng) [175].
Từ thực tiễn này, xu thé phát trién các nhóm nghiên cứu về Facebook, cũng như sự ảnh hưởng của Facebook đến các lĩnh vực đời sống ở các cấp độ (cá nhân, nhóm, cộng đồng) đã và đang biéu hiện ngày càng rõ rệt.