Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Xã hội học với đề tài "Ảnh hưởng của việc sử dụng mạng xã hội Facebook đến học tập và đời sống của sinh viên hiện nay" do nghiên cứu sinh Nguyễn Lan Nguyên thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Kim Hoa và TS. Nguyễn Thị Kim Nhung, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2024 (mã số chuyên ngành: 62.01).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển của không gian số theo quan điểm "Thế giới phẳng" của Thomas L. Friedman, mạng xã hội đã trở thành phương tiện kết nối thông tin và giao tiếp xã hội phổ biến. Tại Việt Nam, Facebook là nền tảng mạng xã hội có thời gian tồn tại lâu dài và quy mô người dùng lớn với hơn 70,4 triệu người dùng, trong khi trên toàn thế giới con số này đạt hơn 2,9 tỷ người. Trong đó, nhóm tuổi từ 18 đến 24 (chủ yếu là sinh viên) chiếm tỷ lệ 25,3% lượng người dùng Facebook tại Việt Nam tính đến tháng 4/2023, chỉ xếp sau nhóm tuổi 25-34 (28,9%).
Bên cạnh những tiện ích về cập nhật thông tin nhanh, giải trí và duy trì tương tác nhóm, mạng xã hội cũng tạo ra các nguy cơ lan truyền thông tin sai lệch, gây ảnh hưởng tâm lý và hành vi lệch chuẩn, đặc biệt là ở nhóm thanh thiếu niên – đối tượng được đánh giá là dễ bị tổn thương trên không gian mạng. Thêm vào đó, tác động của đại dịch COVID-19 và sự xuất hiện của các nền tảng mới như TikTok đã buộc Facebook liên tục thay đổi tính năng và phương thức tương tác.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Mặc dù các công trình quốc tế và trong nước về mạng xã hội khá đa dạng, nhưng tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp hoặc quan sát định tính cảm tính; số lượng công trình nghiên cứu chuyên sâu về ảnh hưởng của Facebook đến nhóm đối tượng sinh viên còn rất ít. Cụ thể, còn thiếu những nghiên cứu thực nghiệm định lượng kết hợp định tính phân tích một cách toàn diện và đồng thời cả hai trục hoạt động cơ bản của sinh viên là học tập và đời sống (bao gồm quan hệ gia đình, quan hệ bạn bè, hoạt động ngoại khóa và việc làm thêm) đặt trong sự so sánh giữa các khối ngành đào tạo đặc thù.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ ảnh hưởng của việc sử dụng mạng xã hội Facebook đến học tập và đời sống của sinh viên hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mô tả thực trạng sử dụng Facebook của sinh viên qua các khía cạnh: thời điểm bắt đầu sử dụng, thời gian (thời lượng và thời điểm) sử dụng trong một ngày, mục đích sử dụng, phương tiện truy cập và mức độ công khai thông tin cá nhân.
- Phân tích sự ảnh hưởng của việc sử dụng mạng xã hội Facebook đến hoạt động học tập của sinh viên.
- Phân tích sự ảnh hưởng của việc sử dụng mạng xã hội Facebook đến các hoạt động trong đời sống của sinh viên, bao gồm quan hệ với bố mẹ, quan hệ với bạn bè, hoạt động ngoại khóa và hoạt động làm thêm.
Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên như thế nào?
- Việc sử dụng mạng xã hội Facebook có ảnh hưởng như thế nào tới hoạt động học tập của sinh viên?
- Việc sử dụng mạng xã hội Facebook có ảnh hưởng như thế nào tới đời sống của sinh viên (gồm các phương diện chính là duy trì, phát triển quan hệ với bố mẹ và bạn bè, hoạt động ngoại khóa và việc làm thêm)?
Giả thuyết nghiên cứu
- Sinh viên có xu hướng bắt đầu sử dụng mạng xã hội Facebook từ sớm, với mức độ sử dụng khá thường xuyên; trong đó mức độ sử dụng Facebook của sinh viên khối trường Khoa học Xã hội và Nhân văn nhiều hơn so với sinh viên khối trường Tự nhiên và Bách Khoa.
- Nhìn chung, việc sử dụng mạng xã hội Facebook có mối quan hệ với hoạt động học tập của sinh viên, thể hiện qua một số hoạt động cụ thể như: trao đổi việc học tập với bạn bè, tìm kiếm thông tin về khóa học, học nhóm và kết quả học tập; trong đó, mức độ ảnh hưởng của thời gian sử dụng Facebook của sinh viên đến các hoạt động và kết quả học tập của sinh viên ở mức trung bình.
- Mạng xã hội Facebook giúp tăng khả năng kết nối giữa sinh viên với bố mẹ và bạn bè dù sống cùng hay sống xa gia đình, hỗ trợ việc tổ chức và tham gia hoạt động ngoại khóa của sinh viên (tăng số lượng hoạt động, tăng số sinh viên tham gia), mang đến nhiều cơ hội việc làm cho sinh viên.
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng và ảnh hưởng của việc sử dụng mạng xã hội Facebook đến học tập và đời sống của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên và Đại học Bách khoa Hà Nội.
- Khách thể nghiên cứu: Sinh viên đang theo học tại 3 cơ sở giáo dục đại học nêu trên.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 12/2016 đến tháng 5/2023.
- Phạm vi không gian: Thực hiện tại 3 trường đại học tại Hà Nội đại diện cho các khối ngành: Khoa học xã hội và nhân văn (Trường ĐHKHXHNV – ĐHQGHN), Khoa học tự nhiên (Trường ĐHKHTN – ĐHQGHN) và Khoa học công nghệ, kỹ thuật ứng dụng (ĐHBKHN). Việc lựa chọn này cũng nhằm mục đích kiểm soát và so sánh sự khác biệt về giới tính giữa các nhóm sinh viên.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào thực trạng sử dụng Facebook và tác động tới học tập cùng 4 lĩnh vực đời sống (quan hệ với bố mẹ, quan hệ với bạn bè, hoạt động ngoại khóa, việc làm thêm).
Khung phân tích của luận án
- Biến số độc lập: Việc sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên, được đo lường qua thời điểm bắt đầu sử dụng và thời lượng sử dụng Facebook trong một ngày.
- Biến số phụ thuộc:
- Hoạt động học tập: Đánh giá mức độ quan trọng khi sử dụng Facebook trong học tập; các hoạt động học tập cụ thể gắn với Facebook; mối quan hệ với kết quả học tập.
- Đời sống sinh viên: Duy trì quan hệ với bố mẹ; duy trì quan hệ với bạn bè; tham gia hoạt động ngoại khóa; hoạt động làm thêm.
- Biến kiểm soát / nhân khẩu học: Giới tính, trường theo học, năm học, xếp loại học tập, điều kiện kinh tế gia đình, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước theo từng nhóm chủ đề liên quan trực tiếp đến đề tài:
Các hướng nghiên cứu chính đã điểm lại
- Nghiên cứu tổng quan về mạng xã hội và truyền thông: Ngô Minh Tiến và Đỗ Thị Quỳnh Trang (2021) phân tích lợi ích truyền thông qua mạng xã hội với 3 đặc tính (thông tin hai chiều, nhận diện nhóm khách hàng, tiết kiệm chi phí); Nguyễn Quý Thanh (chủ biên, 2015) trong công trình chuyên khảo về vốn xã hội đã phân loại 10 nhóm chủ thể tham gia không gian mạng xã hội (từ người theo dõi thầm lặng, người nhấn like, nhóm giao dịch đến nhóm kết bạn); Phạm Thị Huyền Trang (2021) tổng thuật các nghiên cứu mạng xã hội và chỉ ra sự thiếu hụt nghiên cứu thực nghiệm về sinh viên tại Việt Nam; Nguyễn Thị Hội (2021) với luận án tiến sĩ về mô hình hóa hành vi và quan tâm của người dùng trên Facebook, Twitter, YouTube; Trần Tấn Tới, Nguyễn Hoàng Nhạc và Võ Văn Hải Đăng (2022) phân tích thực trạng sử dụng mạng xã hội tại Việt Nam.
- Nghiên cứu quốc tế về mô hình mạng lưới và hành vi người dùng: Maytham Safar và Khaled Mahdi (2012) mô hình hóa hành vi cộng đồng trên mạng xã hội; Proskurnikov (2017) phân tích mạng lưới xã hội động; Granovetter (2018) về tác động của cấu trúc xã hội đến kết quả kinh tế; Kim Cheonsoo và Yang Sung-Un (2017) chỉ ra động lực tâm lý đằng sau ba hành vi thích (tình cảm), bình luận (nhận thức) và chia sẻ (kết hợp cả hai) trên Facebook; Amandeep Singh, Malka N. Halgamuge và Beulah Moses (2019) phân tích xu hướng nhân khẩu học và hành vi trên dữ liệu lớn; Sonam và Surjeet Kumar (2019) nghiên cứu việc khai thác các lĩnh vực đặc trưng của Facebook để kết nối học tập; Sheldon (2021) nghiên cứu việc bù đắp tương tác xã hội qua Facebook của thế hệ Baby Boomers; Gentina (2021) phân tích sự phát triển thuyết tâm trí (theory of mind) của thanh thiếu niên trên mạng xã hội.
- Lý thuyết vốn xã hội trong mối liên hệ với mạng xã hội: Pierre Bourdieu (1986) về các hình thức vốn và hiệu ứng nhân rộng của vốn xã hội; James Coleman (1988) về chức năng của vốn xã hội trong việc tạo ra nguồn nhân lực; Anthony Giddens về cấu trúc hóa và vai trò của lòng tin trong tương tác xã hội; Đinh Hồng Hải về đo lường vốn xã hội cá nhân và vốn xã hội mang tính xã hội.
- Nghiên cứu trong lĩnh vực báo chí, truyền thông chính trị và kinh doanh: Lê Minh Thanh (2010), Ngô Lan Hương (2013), Nguyễn Minh Hạnh (2013), Thái Nguyên Hoàng Giang và Đào Mộng Uyên (2020) nghiên cứu ứng dụng mạng xã hội trong thư viện đại học; Nguyễn Thị Trường Giang và Nguyễn Thị Thu (2022) về truyền thông chính trị trên mạng xã hội; Karen E. Clain (2008), Scott Hebner (2014), Randy Milanovic (2015), Mark Gottlieb (2015), Lưu Thị Thanh Mai (2020), Đỗ Thu Trang (2020), Báo cáo nghiên cứu của VCCI (2021) về thương mại điện tử trên mạng xã hội tại Việt Nam.
- Nghiên cứu về ảnh hưởng của mạng xã hội đến giáo dục và sinh viên: Kevin P. Holcomb và Bethany V. Smith (2007) về ứng dụng mạng xã hội Ning trong e-learning; William Kist (2008) về việc giáo viên sử dụng mạng xã hội; Seo, Kang và Yom (2009) về nghiện Internet và các vấn đề liên cá nhân của thanh thiếu niên; Choi (2010) về lý thuyết mạng xã hội và thay đổi giáo dục; David DeBrot (2013), Nguyễn Thị Kim Hoa và Nguyễn Lan Nguyên (2016), Trần Hữu Luyến, Trần Thị Minh Đức và Bùi Thị Hồng Thái (2015), Dragan Lambić (2016), Ruhul Amin, Md. Shawan Uddin và Sanjoy Kumar Sarker (2016), Sana Rouis, Moez Limayem và Esmail Salehi-Sangari (2011) về tác động của việc sử dụng Facebook đến kết quả học tập của sinh viên.
Vị trí và đóng góp của luận án
Kế thừa các khung lý thuyết về vốn xã hội, truyền thông và giáo dục, luận án giải quyết khoảng trống thực nghiệm tại Việt Nam bằng cách khảo sát mẫu đa trường (đại diện 3 khối ngành đào tạo lớn), kết hợp định lượng và định tính để đo lường cụ thể mức độ tác động của Facebook tới cả kết quả học tập lẫn các mối quan hệ đời sống xã hội của sinh viên.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ
Luận án làm rõ các khái niệm cơ bản: "mạng xã hội", "việc sử dụng mạng xã hội Facebook", "sinh viên", "học tập" và "đời sống". Đề tài vận dụng 3 lý thuyết xã hội học và truyền thông chính:
- Lý thuyết nhu cầu (Needs theory): Giải thích việc sinh viên tìm kiếm và sử dụng các tính năng của Facebook nhằm thỏa mãn các nhu cầu cá nhân về thông tin, giải trí, giao lưu tình cảm, kết nối xã hội và hội nhập nhóm.
- Lý thuyết hành động xã hội (Social action theory của Max Weber): Luận giải hành vi sử dụng Facebook của sinh viên như một chuỗi hành động xã hội có mục đích, có ý thức, được định hướng bởi động cơ cá nhân và có tính đến phản ứng của các chủ thể tương tác khác trong môi trường số.
- Lý thuyết sinh thái truyền thông (Media ecology theory của Neil Postman): Đặt mạng xã hội Facebook trong vai trò một môi trường truyền thông tác động toàn diện đến phương thức tư duy, thói quen sinh hoạt, cấu trúc giao tiếp và các mối quan hệ liên cá nhân của sinh viên.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp (kết hợp định lượng và định tính):
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, phân tích và tổng hợp các công trình khoa học, báo cáo thống kê chuyên ngành trong và ngoài nước (DataReportal, VCCI, NapoleonCat, Trung tâm Internet Việt Nam).
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Khảo sát mẫu sinh viên chính thức (dung lượng mẫu hợp lệ đạt từ 771 đến 787 sinh viên tùy theo biến số khảo sát) tại 3 trường đại học (Trường ĐHKHXHNV, Trường ĐHKHTN thuộc ĐHQGHN và ĐHBKHN). Bảng hỏi cấu trúc gồm 20 câu hỏi bao gồm các thang đo mức độ quan trọng (từ 1 đến 5 điểm), tần suất hoạt động và các biến nhân khẩu học.
- Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc: Thực hiện phỏng vấn sâu đối với các nhóm sinh viên theo giới tính, năm học (năm thứ 1, năm thứ 2...), thời lượng sử dụng và số năm sử dụng Facebook để thu thập dữ liệu định tính chuyên sâu (được trình bày qua các Hộp từ 3.1 đến 4.7).
- Kỹ thuật xử lý số liệu: Dữ liệu định lượng được làm sạch và xử lý bằng các công cụ thống kê: phân tích thống kê mô tả, kiểm định hệ số tương quan tuyến tính Pearson, phân tích hồi quy nhằm xác định khả năng dự đoán của các biến độc lập (thời điểm bắt đầu sử dụng, thời lượng sử dụng trong ngày) đối với các biến phụ thuộc.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này hệ thống hóa các tài liệu khoa học theo 3 nhóm chính: tổng quan về mạng xã hội nói chung và Facebook; vai trò và ảnh hưởng của mạng xã hội đến các lĩnh vực đời sống (vốn xã hội, truyền thông, kinh doanh, marketing); và các nghiên cứu về mối liên hệ giữa mạng xã hội với sinh viên (học tập và các hoạt động đời sống khác). Tác giả chỉ ra tính phức tạp và hai mặt của mạng xã hội, đồng thời xác lập vị trí nghiên cứu thực nghiệm của đề tài tại Việt Nam.
Chương 2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 xây dựng khung khái niệm, trình bày 3 lý thuyết nền tảng (lý thuyết nhu cầu, lý thuyết hành động xã hội, lý thuyết sinh thái truyền thông), mô tả quy trình chọn mẫu điều tra bảng hỏi, mẫu phỏng vấn bán cấu trúc và phương pháp xử lý dữ liệu. Chương này cũng giới thiệu bức tranh phát triển của Facebook trên thế giới và Việt Nam, cùng đặc điểm địa bàn nghiên cứu tại 3 trường đại học (Trường ĐHKHXHNV, Trường ĐHKHTN và ĐHBKHN).
Chương 3. Ảnh hưởng của việc sử dụng mạng xã hội Facebook đến hoạt động học tập của sinh viên
Chương 3 trình bày thực trạng sử dụng Facebook của sinh viên: thời điểm bắt đầu sử dụng, thời lượng sử dụng hàng ngày, phương tiện truy cập, mục đích và mức độ công khai thông tin cá nhân. Tiếp đó, chương phân tích ảnh hưởng của Facebook đến việc học tập thông qua đánh giá mức độ quan trọng, các hoạt động học tập cụ thể trên Facebook và mối quan hệ với kết quả học tập (phân tích tương quan và hồi quy).
Chương 4. Ảnh hưởng của việc sử dụng mạng xã hội Facebook đến duy trì quan hệ với bố mẹ, bạn bè, hoạt động ngoại khóa và làm thêm của sinh viên
Chương 4 phân tích tác động của Facebook trên 4 bình diện đời sống:
- Giao tiếp và mức độ gắn kết với bố mẹ (tần suất trao đổi, cung cấp thông tin, biểu lộ cảm xúc).
- Giao tiếp và duy trì quan hệ với bạn bè (mức độ quan trọng, số lần tương tác/tuần).
- Hoạt động ngoại khóa (tìm hiểu thông tin, truyền thông, kết nối người tham gia, tổ chức hoạt động).
- Hoạt động làm thêm (tìm kiếm việc làm, triển khai công việc, tác động đến kết quả công việc).
Bảng số liệu thống kê tương quan từ phụ lục nghiên cứu
Dưới đây là bảng trích xuất hệ số tương quan Pearson giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc từ dữ liệu xử lý thực tế của đề tài (Phụ lục 2):
| Cặp biến tương quan (Biến độc lập & Biến phụ thuộc) |
Hệ số tương quan Pearson ($r$) |
Mức ý nghĩa ($p$-value) |
Dung lượng mẫu ($N$) |
| Thời lượng sử dụng $\times$ Đánh giá quan trọng học tập (HT2) |
$.381^{**}$ |
$.000$ |
776 |
| Thời điểm sử dụng $\times$ Đánh giá quan trọng học tập (HT2) |
$.002$ |
$> .05$ |
776 |
| Thời lượng sử dụng $\times$ Giao tiếp với bố mẹ (DS1) |
$.519^{**}$ |
$.000$ |
784 |
| Thời lượng sử dụng $\times$ Giao tiếp với bạn bè (DS2) |
$.195^{**}$ |
$.000$ |
780 |
| Thời điểm sử dụng $\times$ Giao tiếp với bạn bè (DS2) |
$.226^{**}$ |
$.000$ |
780 |
| Thời lượng sử dụng $\times$ Hoạt động ngoại khóa (DS5) |
$.562^{**}$ |
$.000$ |
771 |
| Thời điểm sử dụng $\times$ Hoạt động ngoại khóa (DS5) |
$.381^{**}$ |
$.000$ |
771 |
| Thời lượng sử dụng $\times$ Hoạt động làm thêm (DS6) |
$.504^{**}$ |
$.000$ |
393 |
| Thời điểm sử dụng $\times$ Hoạt động làm thêm (DS6) |
$.369^{**}$ |
$.000$ |
393 |
| Học tập (HT2) $\times$ Giao tiếp bạn bè (DS2) |
$.549^{**}$ |
$.000$ |
772 |
| Học tập (HT2) $\times$ Hoạt động làm thêm (DS6) |
$.835^{**}$ |
$.000$ |
388 |
| Giao tiếp bạn bè (DS2) $\times$ Hoạt động làm thêm (DS6) |
$.843^{**}$ |
$.000$ |
393 |
Ghi chú: $^{**}$ Hệ số tương quan có ý nghĩa thống kê ở mức $0.01$ (2-tailed).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Vận dụng kết hợp ba lý thuyết xã hội học (lý thuyết nhu cầu, lý thuyết hành động xã hội và lý thuyết sinh thái truyền thông) để phân tích hành vi sử dụng mạng xã hội của sinh viên Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số.
- Bổ sung luận cứ khoa học vào lĩnh vực xã hội học truyền thông và xã hội học giáo dục về cách thức không gian mạng định hình lại cấu trúc tương tác xã hội, mạng lưới quan hệ và vốn xã hội của nhóm xã hội thanh niên - sinh viên.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bộ số liệu thực nghiệm toàn diện về hành vi sử dụng Facebook của sinh viên tại Hà Nội trên cả 3 khối ngành đào tạo (nhân văn, tự nhiên, công nghệ).
- Chứng minh bằng số liệu định lượng rằng thời lượng sử dụng Facebook có mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê với việc hỗ trợ các hoạt động học tập nhóm, trao đổi thông tin khóa học, kết nối hoạt động ngoại khóa và tìm kiếm việc làm thêm.
- Chỉ ra mức độ ảnh hưởng của thời lượng và thời điểm sử dụng Facebook đối với tần suất giao tiếp gia đình, quan hệ bạn bè và kết quả học tập thực tế của sinh viên.
Khuyến nghị và giải pháp
- Đối với sinh viên: Cần nâng cao kỹ năng tự quản lý thời gian sử dụng mạng xã hội, chọn lọc thông tin phục vụ học tập, bảo mật thông tin cá nhân và cân bằng giữa tương tác trực tuyến với đời sống thực tế.
- Đối với nhà trường và tổ chức Đoàn - Hội: Khai thác tính năng truyền thông và kết nối của Facebook để nâng cao hiệu quả thông tin đào tạo, quản lý sinh viên, tổ chức phong trào ngoại khóa và định hướng việc làm.
- Đối với gia đình: Duy trì kênh tương tác qua mạng xã hội như một phương thức bổ trợ để nắm bắt tâm tư, tình cảm và hỗ trợ sinh viên trong quá trình học tập xa nhà.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về địa bàn và mẫu khảo sát: Nghiên cứu tập trung vào 3 trường đại học công lập tại khu vực Hà Nội (Trường ĐHKHXHNV, Trường ĐHKHTN, ĐHBKHN), do đó chưa bao quát hết đặc thù của sinh viên tại các vùng miền khác hoặc các trường đại học ngoài công lập.
- Hạn chế về độ bao phủ nền tảng: Đề tài tập trung chủ yếu vào Facebook, trong khi thực tế sinh viên hiện nay sử dụng đồng thời nhiều nền tảng mạng xã hội khác nhau (như TikTok, Instagram, Zalo, YouTube).
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng khảo sát so sánh đa nền tảng mạng xã hội, phân tích tác động dài hạn của mạng xã hội đến quá trình chuyển tiếp từ đại học sang thị trường lao động của sinh viên sau khi tốt nghiệp.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Xã hội học, Báo chí và Truyền thông, Tâm lý học, Khoa học Giáo dục: Tham khảo về khung lý thuyết, quy trình thiết kế công cụ nghiên cứu hỗn hợp và phương pháp xử lý số liệu tương quan, hồi quy xã hội học.
- Giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đại học: Cung cấp dữ liệu thực tế về thói quen tiếp nhận thông tin và hành vi số của sinh viên để điều chỉnh phương pháp quản lý, hỗ trợ học tập trực tuyến.
- Cán bộ Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên: Sử dụng các phát hiện về hoạt động ngoại khóa và việc làm thêm để tối ưu hóa công tác truyền thông phong trào và kết nối sinh viên trên nền tảng mạng xã hội.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án tiến hành khảo sát thực nghiệm tại những trường đại học nào và lý do lựa chọn là gì?
Luận án tiến hành khảo sát tại 3 trường: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN), Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐHQGHN) và Đại học Bách khoa Hà Nội. Việc lựa chọn này đại diện cho 3 khối ngành đào tạo đặc trưng (khoa học xã hội - nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật - công nghệ), đồng thời giúp kiểm soát và so sánh sự khác biệt về giới tính giữa các nhóm sinh viên.
2. Các lý thuyết xã hội học và truyền thông nền tảng nào được sử dụng trong luận án?
Luận án sử dụng 3 lý thuyết chính: Lý thuyết nhu cầu (Needs theory), Lý thuyết hành động xã hội (Social action theory của Max Weber) và Lý thuyết sinh thái truyền thông (Media ecology theory của Neil Postman), kết hợp với cơ sở lý luận về vốn xã hội của Pierre Bourdieu, James Coleman và Anthony Giddens.
3. Khung phân tích của luận án xác định những biến số độc lập và phụ thuộc nào?
- Biến số độc lập: Thời điểm bắt đầu sử dụng Facebook và Thời lượng sử dụng Facebook trong một ngày của sinh viên.
- Biến số phụ thuộc: Hoạt động học tập (đánh giá mức độ quan trọng, các hoạt động học tập cụ thể, kết quả học tập) và Đời sống sinh viên (giao tiếp với bố mẹ, giao tiếp với bạn bè, hoạt động ngoại khóa, hoạt động làm thêm).
4. Kết quả phân tích tương quan Pearson trong luận án chỉ ra điều gì về mối quan hệ giữa thời lượng sử dụng Facebook và các hoạt động của sinh viên?
Kết quả thống kê cho thấy thời lượng sử dụng Facebook có mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê ($p = .000$) với đánh giá mức độ quan trọng của Facebook trong học tập ($r = .381$), giao tiếp với bố mẹ ($r = .519$), giao tiếp với bạn bè ($r = .195$), hoạt động ngoại khóa ($r = .562$) và hoạt động làm thêm ($r = .504$).
5. Phương pháp nghiên cứu định tính của luận án được triển khai như thế nào?
Phương pháp định tính được thực hiện thông qua kỹ thuật phỏng vấn bán cấu trúc đối với sinh viên thuộc các năm học khác nhau tại 3 trường nghiên cứu, phân loại theo số năm sử dụng (từ 6 đến 8 năm) và thời lượng sử dụng trong ngày (từ 1-3 tiếng/ngày đến 4 tiếng/ngày) để minh họa sâu cho các chiều cạnh phân tích.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Lan Nguyên là công trình nghiên cứu xã hội học thực nghiệm làm rõ ảnh hưởng của mạng xã hội Facebook đến học tập và đời sống sinh viên. Thông qua việc kết hợp các lý thuyết xã hội học với phương pháp nghiên cứu hỗn hợp trên mẫu khảo sát liên trường tại Hà Nội giai đoạn 2016–2023, luận án đã định lượng hóa các mối liên hệ giữa hành vi sử dụng mạng xã hội với kết quả học tập, giao tiếp gia đình, tương tác bạn bè, phong trào ngoại khóa và việc làm thêm. Các phát hiện và số liệu của luận án cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác quản lý giáo dục, định hướng sử dụng truyền thông số cho thanh niên và làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu xã hội học truyền thông tiếp theo.