Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Hồ Ba Bể là hồ nước ngọt tự nhiên trên núi đá vôi lớn nhất Việt Nam, nằm ở độ cao 178 m so với mực nước biển, diện tích mặt nước khoảng 500 ha với độ sâu trung bình từ 17 m đến 23 m (điểm sâu nhất đạt 29 m). Năm 2011, Vườn Quốc gia (VQG) Ba Bể thuộc tỉnh Bắc Kạn đã được công nhận là khu Ramsar thứ 3 của Việt Nam nhờ hệ sinh thái đất ngập nước trên núi có tầm quan trọng quốc tế. Cùng với giá trị đa dạng sinh học cao và cảnh quan carxtơ đặc sắc, khu vực này trở thành trung tâm phát triển du lịch sinh thái và văn hóa trọng điểm của vùng miền núi Đông Bắc.
Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng của lượng khách du lịch và các hoạt động kinh tế - dịch vụ phụ trợ đã tạo ra áp lực đáng kể lên hệ sinh thái lòng hồ. Thực trạng phát triển du lịch hiện nay đang bộc lộ nhiều bất cập về hạ tầng kỹ thuật môi trường, nổi bật là tình trạng thiếu kiểm soát trong việc xả rác thải sinh hoạt, nước thải dịch vụ trực tiếp ra lòng hồ và ô nhiễm váng dầu từ hoạt động của xuồng máy vận chuyển khách.
Trước thực tế đó, đề tài "Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch tới môi trường nước Hồ Ba Bể tại khu du lịch Vườn Quốc Gia Ba Bể - Bắc Kạn" được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Mục tiêu chung: Đánh giá chất lượng môi trường nước Hồ Ba Bể, phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới môi trường nước hồ để đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng nước hồ, giảm nguy cơ ô nhiễm.
- Mục tiêu cụ thể:
- Xác định rõ các tác động của hoạt động du lịch tới môi trường nước mặt Hồ Ba Bể.
- Đề ra các giải pháp nhằm hạn chế sự tác động tiêu cực của hoạt động du lịch tới môi trường nước Hồ Ba Bể.
- Yêu cầu của đề tài:
- Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu.
- Xác định chất lượng nước mặt Hồ Ba Bể qua các chỉ tiêu hóa lý thực nghiệm.
- Xác định mức độ ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường nước Hồ Ba Bể.
- Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của hoạt động du lịch tới môi trường nước Hồ Ba Bể tại khu du lịch Vườn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Khu vực Hồ Ba Bể thuộc VQG Ba Bể, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (bao gồm các lưu vực sông suối cấp nước chính và các điểm tập trung hoạt động du lịch như bến xuồng, Đảo An Mã, suối Tà Han, suối Chợ Lèng).
- Thời gian thực hiện: Từ ngày 05/05/2014 đến ngày 05/08/2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm chuyên ngành du lịch và môi trường, bao gồm định nghĩa du lịch của Mathieson & Wall, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO/WTM) và Luật Du lịch Việt Nam năm 2005. Môi trường du lịch được phân tích theo 3 cấu phần chính: môi trường tự nhiên, môi trường nhân văn và môi trường kinh tế - văn hóa xã hội. Tác giả cũng tổng kết 6 đặc trưng cơ bản của ngành du lịch (tính đa ngành, tính đa thành phần, tính đa mục tiêu, tính liên vùng, tính mùa vụ, tính chi phí) cùng các nguồn phát sinh ô nhiễm theo vòng đời dự án du lịch.
Khung pháp lý và quy chuẩn kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu gồm có:
- Quyết định số 83/TTg ngày 10/11/1992 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập VQG Ba Bể.
- Quyết định số 879/QĐ-TCMT ngày 01/07/2011 của Tổng cục Môi trường ban hành Sổ tay hướng dẫn tính toán Chỉ số chất lượng nước (WQI).
- QCVN 08:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt (áp dụng mức A2: sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt sau khi xử lý phù hợp, bảo tồn động thực vật thủy sinh).
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp nghiên cứu tài liệu thứ cấp, điều tra xã hội học và thực nghiệm phân tích môi trường:
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu khí tượng thủy văn, hiện trạng kinh tế - xã hội, số liệu khách du lịch và báo cáo kết quả quan trắc định kỳ giai đoạn 2012–2013 từ Ban Quản lý VQG Ba Bể và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Kạn.
- Phương pháp điều tra: Xây dựng phiếu khảo sát điều tra sự hiểu biết và ý thức bảo vệ môi trường của 50 khách du lịch ngẫu nhiên; tiến hành khảo sát thực địa quan sát trực tiếp hành vi môi trường của du khách tại tuyến đường ven hồ và khu vực bến xuồng với dung lượng 100 lượt quan sát.
- Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu: Lấy mẫu nước mặt ngày 25/06/2014 tại 4 vị trí đại diện theo TCVN 6663-6:2008 (nước sông, suối) và TCVN 5994:1995 (nước hồ); bảo quản và xử lý mẫu theo TCVN 6663-3:2008.
- Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm:
| STT |
Chỉ tiêu phân tích |
Đơn vị |
Phương pháp phân tích |
| 1 |
pH |
- |
TCVN 6492:1999 |
| 2 |
Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) |
mg/l |
TCVN 6625:2000 (ISO 11923:1997) |
| 3 |
Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5) |
mg/l |
TCVN 6001:1995 (ISO 5815:1989) |
| 4 |
Nhu cầu oxy hóa học (COD) |
mg/l |
TCVN 6491:1999 (ISO 6060:1989) |
| 5 |
Oxy hòa tan (DO) |
mg/l |
TCVN 5499:1995 |
- Phương pháp xử lý số liệu: Xử lý, tổng hợp số liệu trên phần mềm Microsoft Excel và Microsoft Word; so sánh đối chiếu số liệu quan trắc thực tế với QCVN 08:2008/BTNMT và tính toán đánh giá chất lượng nguồn nước theo chỉ số WQI.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ xung đột giữa nhu cầu tăng trưởng du lịch sinh thái và công tác kiểm soát ô nhiễm nước tại khu Ramsar Hồ Ba Bể. Xác định rõ mục tiêu chung, 2 mục tiêu cụ thể, 3 yêu cầu nghiên cứu, cùng ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn trong công tác quản lý tài nguyên môi trường tại VQG Ba Bể.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Hệ thống hóa lý luận về môi trường du lịch, các tác động tích cực (bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển kinh tế, phục hưng văn hóa) và tác động tiêu cực (suy thoái tài nguyên nước, đất, không khí, biến đổi văn hóa bản địa). Phân tích các yếu tố tự nhiên tác động đến môi trường nước hồ (chế độ thủy văn sông Năng với lưu vực 420 km², lượng mưa 1.400 mm/năm, mùa lũ chiếm 75% tổng dòng chảy năm, tốc độ bồi lắng đạt 0,5–1,0 m trong 20 năm làm giảm tuổi thọ hồ) và các yếu tố phát triển kinh tế - xã hội (nông nghiệp sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật 3–5 lần/vụ, nước thải sinh hoạt và y tế chưa qua xử lý đổ thẳng vào lưu vực). Ngoài ra, chương này trình bày sơ đồ định hướng phát triển khu du lịch Ba Bể đến năm 2030 với 4 trụ cột: bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn văn hóa truyền thống, hoàn thiện hạ tầng và hướng tới du lịch sinh thái bền vững.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Xác định đối tượng nghiên cứu, phạm vi không gian tại huyện Ba Bể và thời gian từ tháng 5/2014 đến tháng 8/2014. Mô tả chi tiết 5 nội dung nghiên cứu chính và 5 nhóm phương pháp kỹ thuật được sử dụng (thu thập tài liệu thứ cấp, điều tra xã hội học 50 phiếu và 100 lượt quan sát, quy trình lấy mẫu theo 3 tiêu chuẩn quốc gia, phân tích 5 chỉ tiêu hóa lý nước mặt theo TCVN, xử lý dữ liệu và tính WQI theo Quyết định 879/QĐ-TCMT).
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này tập trung trình bày các dữ liệu thực nghiệm và kết quả khảo sát thực tế:
-
Đặc điểm tự nhiên, nhân văn và hạ tầng:
- VQG Ba Bể có diện tích 10.048 ha (vùng bảo vệ nghiêm ngặt 3.931 ha, phục hồi sinh thái 6.083 ha, dịch vụ hành chính 34 ha; vùng đệm 34.000 ha). Địa chất thuộc khối đá vôi Givet kỷ Đevon giữa (khoảng 200 triệu năm). Hệ thực vật có 620 loài thân gỗ (300 chi, 138 họ), có loài Trúc dây đặc hữu; khu hệ động vật có 38 loài thú (Voọc mũi hếch, Voọc đen má trắng), 111 loài chim, 24 loài bò sát - lưỡng cư (Cá cóc Tam Đảo), 54 loài cá và hơn 400 loài bướm.
- Dân cư vùng đệm có hơn 3.000 người thuộc 5 dân tộc (Tày, Nùng, Dao, Kinh, Mông), trong đó người Tày chiếm đa số (60% tại xã Khang Ninh, 47% tại xã Cao Thượng).
- Về hạ tầng: Khu vực chưa có trạm xử lý nước thải tập trung, nước thải từ các cơ sở dịch vụ xả thẳng xuống mương rãnh hoặc ngấm vào đất; rác thải sinh hoạt chủ yếu được thu gom thủ công và đốt cục bộ.
-
Hiện trạng phát triển du lịch:
- Lượng khách du lịch tăng mạnh từ 44.454 lượt (năm 2008) lên 83.388 lượt (năm 2013), trong đó khách nội địa chiếm khoảng 80% và khách quốc tế chiếm khoảng 20%. Dự báo đến năm 2025 lượng khách đạt 2,44 triệu lượt.
- Toàn khu du lịch có 28 cơ sở lưu trú với 19 nhà nghỉ cộng đồng (homestay) tập trung tại bản Pác Ngòi và Bó Lù; 8 khách sạn/nhà nghỉ tại thị trấn Chợ Rã và 2 cơ sở tại xã Khang Ninh.
- Có 126 xuồng máy vận chuyển khách hoạt động trên sông Năng và Hồ Ba Bể (quy định chở tối đa 12 khách quốc tế hoặc 16 khách nội địa), tạo ra nguy cơ rò rỉ dầu nhớt xuống lòng hồ.
-
Hiện trạng và diễn biến chất lượng nước mặt:
- Kết quả phân tích đợt 1 năm 2014 (ngày 25/06/2014) tại 4 điểm: MN1 (Bến xuồng Hồ 1), MN2 (Đảo An Mã), MN3 (Suối Tà Han - Cốc Tộc), MN4 (Suối Chợ Lèng - Pác Ngòi) cho thấy:
- pH (7,16–7,83) và DO (5,6–6,3 mg/l) đều đạt chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT (loại A2).
- TSS dao động từ 3 mg/l đến 21 mg/l, nằm trong giới hạn cho phép (≤ 30 mg/l).
- BOD5 tại điểm MN1 đạt 9,2 mg/l và điểm MN4 đạt 7,3 mg/l, đều vượt ngưỡng A2 (6 mg/l).
- COD tại điểm MN1 đạt 19,5 mg/l, vượt ngưỡng A2 (15 mg/l).
- So sánh giai đoạn 2012–2014: Giá trị TSS tăng liên tục từ 3 mg/l (2012) lên 12 mg/l (2013) và 21 mg/l (2014). Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5) tăng từ 2,8 mg/l (2012) lên 9,2 mg/l (2014). Nhu cầu oxy hóa học (COD) tăng từ 5,8 mg/l (2012) lên 19,5 mg/l (2014). Hàm lượng dầu mỡ trong các năm 2012 (0,04 mg/l) và 2013 (0,03 mg/l) đều vượt giới hạn quy chuẩn loại A2 (0,02 mg/l).
- Đánh giá theo chỉ số WQI năm 2013: Chỉ số chất lượng nước trung bình đạt 96,5. Điểm cao nhất tại Hồ 3 (WQI = 98,66), tiếp đến là Hồ 1 (WQI = 98,03), suối Tà Han (WQI = 95,13) và thấp nhất tại suối Chợ Lèng (WQI = 94,05). Nước mặt tổng thể vẫn ở mức sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt.
-
Định hướng giải pháp nâng cao chất lượng môi trường nước:
- Xây dựng hệ thống thu gom và trạm xử lý nước thải tập trung tại các cụm dân cư và cơ sở kinh doanh dịch vụ ven hồ.
- Tăng cường kiểm soát kỹ thuật đối với 126 phương tiện xuồng máy, hạn chế rò rỉ dầu nhớt, trang bị thùng chứa rác trên thuyền.
- Quy hoạch và bố trí bổ sung hệ thống thùng rác công cộng, nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn tại các bến bãi, điểm tham quan.
- Tuyên truyền nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường cho khách du lịch và cộng đồng dân cư địa phương tham gia kinh doanh du lịch cộng đồng.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm
Dữ liệu quan trắc môi trường nước mặt năm 2014 và chuỗi theo dõi 2012–2014 tại khu du lịch Hồ Ba Bể được tổng hợp như sau:
| Thông số |
Đơn vị |
MN1 (Bến xuồng) |
MN2 (Đảo An Mã) |
MN3 (Suối Tà Han) |
MN4 (Suối Chợ Lèng) |
QCVN 08:2008/BTNMT (Cột A2) |
| pH |
- |
7,83 |
7,25 |
7,36 |
7,16 |
6,0 – 8,5 |
| TSS |
mg/l |
21 |
3 |
14 |
12 |
30 |
| BOD5 |
mg/l |
9,2 |
3,0 |
3,2 |
7,3 |
6 |
| COD |
mg/l |
19,5 |
7,2 |
6,2 |
13,8 |
15 |
| DO |
mg/l |
6,0 |
5,8 |
6,3 |
5,6 |
≥ 5 |
Bảng tổng hợp diễn biến chất lượng nước mặt qua 3 năm (2012–2014):
| Thông số |
Đơn vị |
Năm 2012 |
Năm 2013 |
Năm 2014 (Đợt 1) |
QCVN 08:2008/BTNMT (Cột A2) |
| pH |
- |
7,32 |
7,42 |
7,83 |
6,0 – 8,5 |
| TSS |
mg/l |
3 |
12 |
21 |
30 |
| BOD5 |
mg/l |
2,8 |
3,0 |
9,2 |
6 |
| COD |
mg/l |
5,8 |
6,6 |
19,5 |
15 |
| DO |
mg/l |
6,0 |
5,7 |
6,0 |
≥ 5 |
| Coliform |
MPN/100ml |
440 |
470 |
KPT |
5.000 |
| Dầu mỡ |
mg/l |
0,04 |
0,03 |
KPT |
0,02 |
(Ghi chú: KPT = Không phân tích trong đợt đo).
Kết quả đánh giá theo chỉ số chất lượng nước (WQI) tại 4 vị trí:
| STT |
Vị trí quan trắc |
Giá trị WQI |
Đánh giá chất lượng và khả năng sử dụng nguồn nước |
| 1 |
Nước hồ Ba Bể (Hồ 1) |
98,03 |
Sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt |
| 2 |
Nước hồ Ba Bể (Hồ 3) |
98,66 |
Sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt |
| 3 |
Nước suối Tà Han (bản Cốc Tộc) |
95,13 |
Sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt |
| 4 |
Nước suối Chợ Lèng (bản Pác Ngòi) |
94,05 |
Sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt |
Đóng góp của đề tài
- Về mặt khoa học: Cung cấp bộ số liệu thực nghiệm cập nhật năm 2014 về các thông số hóa lý nước mặt (pH, TSS, BOD5, COD, DO) và chỉ số WQI tại các điểm xung yếu của Hồ Ba Bể; lượng hóa được xu hướng gia tăng hàm lượng chất hữu cơ (BOD5, COD) và chất rắn lơ lửng gắn liền với sự gia tăng khách du lịch giai đoạn 2012–2014.
- Về mặt thực tiễn: Nhận diện chính xác 2 điểm nóng ô nhiễm hữu cơ cục bộ là Bến xuồng Hồ 1 và Suối Chợ Lèng; đề xuất các nhóm giải pháp kỹ thuật, quy hoạch hạ tầng cấp thoát nước và quản lý đội tàu xuồng máy phục vụ trực tiếp cho công tác quản lý môi trường của Ban Quản lý VQG Ba Bể và chính quyền địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Thời gian thực hiện đề tài ngắn (3 tháng, từ tháng 5 đến tháng 8/2014) nên việc quan trắc thực địa chỉ tiến hành được 01 đợt vào ngày 25/06/2014.
- Đợt lấy mẫu năm 2014 chưa phân tích được toàn diện các chỉ tiêu vi sinh (Coliform) và hàm lượng dầu mỡ khoáng mà phải sử dụng số liệu thứ cấp của các năm 2012–2013 để đối chiếu.
- Số lượng mẫu điều tra xã hội học còn ở mức hạn chế (50 phiếu hỏi du khách).
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Triển khai mạng lưới quan trắc định kỳ nhiều đợt trong năm để theo dõi sự biến động chất lượng nước theo mùa (mùa khô và mùa lũ) và theo chu kỳ mùa vụ du lịch.
- Bổ sung phân tích các hợp chất hóa chất bảo vệ thực vật, kim loại nặng và dinh dưỡng (Nitơ, Photpho) phát sinh từ hoạt động nông nghiệp vùng đệm và bùn đáy bồi lắng.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo chuyên môn hữu ích cho sinh viên, học viên và cán bộ nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Sinh thái học, Du lịch học và Quản lý Đô thị - Nông thôn.
Các nội dung có giá trị sử dụng cao trong văn bản gồm:
- Quy trình tích hợp phương pháp đánh giá chất lượng nước theo QCVN 08:2008/BTNMT và tính toán chỉ số WQI (Quyết định 879/QĐ-TCMT) cho một thủy vực hồ tự nhiên trên núi.
- Dữ liệu thống kê chi tiết về hiện trạng cơ sở lưu trú homestay tại các bản Pác Ngòi, Bó Lù và số lượng phương tiện xuồng máy hoạt động tại VQG Ba Bể.
- Tư liệu mô tả địa hình carxtơ, hệ thống thủy văn và đa dạng sinh học đặc trưng của khu Ramsar VQG Ba Bể.
Câu hỏi thường gặp
1. Chất lượng nước mặt Hồ Ba Bể năm 2014 có những chỉ tiêu nào vượt ngưỡng cho phép của QCVN 08:2008/BTNMT (loại A2)?
Trong đợt quan trắc ngày 25/06/2014, có 2 thông số vượt ngưỡng quy chuẩn loại A2 tại 2 vị trí:
- Chỉ số BOD5 vượt ngưỡng (quy chuẩn ≤ 6 mg/l) tại điểm MN1 (Bến xuồng Hồ 1) với 9,2 mg/l và điểm MN4 (Suối Chợ Lèng) với 7,3 mg/l.
- Chỉ số COD vượt ngưỡng (quy chuẩn ≤ 15 mg/l) tại điểm MN1 (Bến xuồng Hồ 1) với 19,5 mg/l (điểm MN4 tiệm cận ngưỡng với 13,8 mg/l).
2. Sự thay đổi của các chỉ số ô nhiễm hữu cơ và chất rắn lơ lửng trong giai đoạn 2012–2014 diễn ra như thế nào?
Số liệu quan trắc cho thấy xu hướng tăng rõ rệt:
- TSS tăng liên tục qua các năm: từ 3 mg/l (2012) lên 12 mg/l (2013) và 21 mg/l (2014).
- BOD5 tăng từ 2,8 mg/l (2012) lên 3,0 mg/l (2013), sau đó tăng vọt lên 9,2 mg/l vào năm 2014 (tăng 6,4 mg/l so với năm 2012).
- COD tăng từ 5,8 mg/l (2012) lên 6,6 mg/l (2013), sau đó tăng mạnh lên 19,5 mg/l vào năm 2014 (tăng 13,7 mg/l so với năm 2012).
3. Chỉ số chất lượng nước WQI tại các điểm khảo sát năm 2013 được xếp loại ra sao?
Theo tính toán từ 10 thông số quan trắc năm 2013, chỉ số WQI tại tất cả các điểm đều ở mức rất cao (WQI trung bình = 96,5). Trong đó, Hồ 3 đạt 98,66; Hồ 1 đạt 98,03; Suối Tà Han đạt 95,13; Suối Chợ Lèng đạt 94,05. Tất cả đều nằm trong khoảng 91–100, thuộc mức "Sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt".
4. Quy mô hạ tầng lưu trú và phương tiện vận chuyển du lịch tại VQG Ba Bể ở thời điểm nghiên cứu là bao nhiêu?
Khu vực có tổng cộng 28 cơ sở lưu trú, bao gồm 19 nhà nghỉ cộng đồng (homestay) tại bản Pác Ngòi và Bó Lù, 8 khách sạn/nhà nghỉ tại thị trấn Chợ Rã và 2 cơ sở tại xã Khang Ninh. Về phương tiện giao thông đường thủy, có 126 xuồng máy đã qua đăng ký an toàn kỹ thuật hoạt động vận chuyển khách trên sông Năng và Hồ Ba Bể.
5. Những nguồn thải chính nào từ hoạt động dân sinh và du lịch đe dọa môi trường nước hồ?
Nước hồ chịu tác động từ 3 nguồn chính: nước thải sinh hoạt và dịch vụ ăn uống từ các cơ sở lưu trú ven hồ xả thẳng xuống mương rãnh mà không qua hệ thống xử lý tập trung; dầu mỡ rò rỉ từ 126 xuồng máy phục vụ du khách; và rác thải sinh hoạt chưa được thu gom triệt để do thiếu thùng rác và nhà vệ sinh công cộng đạt chuẩn.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lưu Thị Thái đã phản ánh toàn diện thực trạng chất lượng nước mặt và tác động của hoạt động du lịch tại Vườn Quốc gia Ba Bể năm 2014. Mặc dù chỉ số chất lượng nước tổng thể (WQI) vẫn ở mức tốt, song các dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ cục bộ (BOD5, COD) và váng dầu mỡ đã xuất hiện rõ rệt tại khu vực bến xuồng và các dòng suối chảy qua khu dân cư du lịch. Các giải pháp kỹ thuật và quản lý được đề xuất trong công trình là cơ sở thiết thực để địa phương cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng du lịch sinh thái và bảo tồn bền vững vùng đất ngập nước Ramsar Hồ Ba Bể.