Tổng quan nghiên cứu

Dự án Thủy điện An Khê – Kanak là công trình thủy điện trọng điểm quốc gia được xây dựng trên lưu vực sông Ba thuộc địa phận tỉnh Gia Lai và Bình Định theo Quyết định số 785/TTg-CN của Thủ tướng Chính phủ. Công trình có thiết kế đặc thù khi chuyển toàn bộ dòng nước từ lưu vực sông Ba rộng 1.246 km2 sang sông Kone thuộc tỉnh Bình Định, làm hạ lưu sông Ba sụt giảm khoảng 9% tổng lượng dòng chảy thường niên. Quá trình thi công và ngăn dòng đã tác động trực tiếp đến 9.332,3 ha đất sản xuất nông nghiệp, chiếm gần 60% tổng diện tích canh tác của 5 đơn vị hành chính thuộc thị xã An Khê, bao gồm các xã Thành An, Tú An, Xuân An, Cửu An và phường An Phước.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá sự xáo trộn sinh kế của 890 hộ dân bị ảnh hưởng do thu hồi 624,4 ha đất nông nghiệp phục vụ lòng hồ và các công trình phụ trợ. Mục tiêu cụ thể tập trung vào việc định lượng biến động của năm nguồn vốn sinh kế, xác định các nút thắt trong công tác tái định cư, bồi thường giải phóng mặt bằng với tổng chi phí 161,196 tỷ đồng, đồng thời phân tích những khó khăn khi diện tích đất sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp bị thu hẹp đáng kể.

Phạm vi không gian nghiên cứu được xác định tại thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai, dựa trên chuỗi số liệu khảo sát thực tế giai đoạn 2010 - 2011 và tổng hợp đánh giá hoàn thiện vào giai đoạn 2016 - 2017. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học giúp các cơ quan quản lý nhà nước điều chỉnh chính sách an sinh, tối ưu hóa việc quản lý 105 ha đất vùng bán ngập và xây dựng mô hình sinh kế nông nghiệp bền vững cho các cộng đồng dân cư chịu tác động từ các dự án thủy điện chuyển dòng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng Khung phân tích sinh kế bền vững do Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID, 1999) ban hành làm nền tảng lý thuyết chủ đạo. Khung lý thuyết này tiếp cận sinh kế của nông hộ thông qua sự tương tác giữa bối cảnh dễ bị tổn thương, các thể chế chính sách và năm nguồn vốn sinh kế cốt lõi: nguồn nhân lực (trình độ kỹ thuật, sức khỏe lao động), nguồn lực xã hội (mạng lưới cộng đồng, thiết chế địa phương), nguồn lực tự nhiên (đất đai canh tác, tài nguyên nước, diện tích rừng), nguồn lực vật chất (nhà ở, cơ sở hạ tầng giao thông, hệ thống thủy lợi) và nguồn lực tài chính (thu nhập thực tế, tiền bồi thường, khả năng tiếp cận vốn tín dụng).

Bên cạnh đó, đề tài kết hợp Lý thuyết di dân và tái định cư bắt buộc theo chuẩn mực của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 1995) và các quy định pháp luật Việt Nam như Luật Đất đai năm 2003, Nghị định 197/2004/NĐ-CP và Nghị định 69/2009/NĐ-CP. Nghiên cứu làm rõ ba khái niệm nền tảng: sinh kế bền vững trong nông nghiệp, tái định cư không tự nguyện do xây dựng hạ tầng năng lượng, và đới đất bán ngập vùng lòng hồ hình thành giữa mực nước dâng bình thường ở cao trình 429m và mực nước chết ở cao trình 427m.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm số liệu sơ cấp và số liệu thứ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê thị xã An Khê, các văn bản báo cáo kinh tế - xã hội của UBND thị xã An Khê và các báo cáo kỹ thuật từ Ban Quản lý Dự án Thủy điện 7. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi cấu trúc sẵn đối với cỡ mẫu gồm 70 hộ nông dân chịu ảnh hưởng trực tiếp tại các xã Thành An, Tú An, Xuân An, Cửu An và phường An Phước.

Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho cả nhóm hộ phải di dời nhà ở tái định cư và nhóm hộ chỉ bị thu hồi đất sản xuất. Quá trình xử lý và phân tích số liệu sử dụng phần mềm Microsoft Excel, kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh đối chiếu trước - sau khi xây dựng công trình thủy điện. Việc lựa chọn phương pháp phân tích định lượng kết hợp định tính giúp phản ánh chân thực các biến động kinh tế và lượng hóa mức độ thiệt hại tài sản của người dân bản địa một cách khách quan, khoa học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế trên 70 hộ dân chỉ ra những biến động sâu sắc trên cả năm nguồn lực sinh kế sau khi dự án Thủy điện An Khê – Kanak đi vào vận hành:

  • Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân của mỗi hộ giảm từ 1,9 ha xuống còn 1,5 ha. Tỷ lệ hộ sở hữu dưới 1 ha đất canh tác tăng mạnh từ 41,46% lên 48,57%, trong khi có đến 81,42% số hộ khẳng định quỹ đất mới được giao có quy mô nhỏ hơn nơi ở cũ và 10% hộ đánh giá chất lượng đất khai hoang kém hơn.
  • Nguồn lực lâm nghiệp suy giảm nghiêm trọng khi diện tích đất rừng của các hộ điều tra giảm gần 80%, chỉ còn lại 10 ha rừng trồng phân bổ cho 18 hộ (bình quân 0,55 ha/hộ). Kéo theo đó, thu nhập từ hoạt động lâm nghiệp giảm từ 1,5 triệu đồng/hộ/năm xuống còn 0,7 triệu đồng/hộ/năm.
  • Hoạt động chăn nuôi ghi nhận sự chuyển dịch tích cực nhờ nguồn tiền bồi thường với tổng đàn bò tăng từ 36 con lên 49 con, tổng đàn trâu tăng từ 15 con lên 34 con, và đàn lợn tăng từ 119 con lên 129 con, tạo nguồn tích lũy tài sản mới cho nông hộ.
  • Cơ sở hạ tầng vật chất được nâng cấp rõ rệt thông qua gói đầu tư 150 tỷ đồng của chủ đầu tư, giúp 95% hộ dân hài lòng về diện tích nhà ở mới, khoảng cách đến trường học rút ngắn từ 0,6 km xuống 0,3 km và đến trạm y tế giảm từ 1,5 km xuống 0,3 km; tuy nhiên, dự án cũng làm phát sinh 512 đơn thư khiếu nại do bất cập trong áp giá bồi thường và thay đổi dòng chảy.

Thảo luận kết quả

Sự biến động sinh kế tiêu cực bắt nguồn trực tiếp từ việc chuyển dòng chảy tự nhiên của sông Ba sang sông Kone, làm hạ lưu sông Ba khô cạn vào mùa khô và gây ngập lụt cục bộ vào mùa mưa. Điển hình là đợt lũ ngày 15/11/2013 đã cô lập hoàn toàn thị xã An Khê. Việc thu hồi 624,4 ha đất mà không có quỹ đất canh tác tương đương để bồi thường theo phương thức "đất đổi đất" đã đẩy người dân vào thế bị động. Dù mỗi hộ nhận được khoản tiền hỗ trợ trung bình từ 90 đến 170 triệu đồng, nhưng do thiếu các chương trình đào tạo chuyển đổi nghề phi nông nghiệp, dòng tiền này chủ yếu được chi tiêu cho tiêu dùng ngắn hạn thay vì tái đầu tư sinh lời bền vững.

So sánh với các công trình thủy điện lớn tại Việt Nam, thực trạng tại An Khê – Kanak có nhiều điểm tương đồng với Thủy điện Hòa Bình (nơi có 8.000 ha đất bán ngập) và Thủy điện Trị An (với 2.100 ha đất bán ngập), khi nông dân đều tự phát canh tác trên đất lòng hồ mà thiếu sự bảo hộ pháp lý. Tại vùng lòng hồ Ialy, diện tích bán ngập 1.608 ha được đầu tư 32 tỷ đồng cho trạm bơm và thủy lợi đã mang lại hiệu quả canh tác ổn định hơn. Các dữ liệu so sánh này cho thấy cần thiết phải trình bày số liệu biến động đất đai và tài sản hộ thông qua các biểu đồ cột chồng và bảng cơ cấu đa chiều để minh họa rõ nét mức độ suy giảm tư liệu sản xuất của người dân vùng dự án.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm kiến tạo sinh kế bền vững cho người dân thị xã An Khê trong giai đoạn tiếp theo, các giải pháp đồng bộ cần được triển khai quyết liệt:

  • Hoàn thiện khung pháp lý và quy hoạch khai thác 105 ha đất vùng bán ngập tại xã Xuân An: UBND thị xã An Khê phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Gia Lai tiến hành đo đạc, lập bản đồ địa chính và ban hành quy chế giao khoán đất bán ngập ngắn hạn cho 890 hộ dân theo chu kỳ rút nước từ tháng 1 đến tháng 9 hàng năm.
  • Tái cơ cấu cơ cấu cây trồng và nâng cấp hệ thống tưới tiêu: Ban Quản lý Dự án Thủy điện 7 cùng Phòng Nông nghiệp thị xã cam kết đầu tư bổ sung 03 trạm bơm điện dã chiến và kiên cố hóa 15 km kênh mương nội đồng, hướng dẫn người dân chuyển đổi từ trồng sắn năng suất thấp sang các giống lúa ngắn ngày và cây màu chịu hạn có giá trị kinh tế cao hơn từ 20% đến 30%.
  • Tổ chức các chương trình đào tạo nghề và chuyển giao kỹ thuật nông nghiệp: Trung tâm Dạy nghề thị xã An Khê phối hợp với Hội Nông dân triển khai các lớp tập huấn kỹ thuật chăn nuôi bò lai sinh sản, kỹ thuật nuôi cá lồng bè trên lòng hồ cho ít nhất 60,5% lao động trong độ tuổi 16 - 60, đảm bảo mỗi hộ có tối thiểu một lao động có chứng chỉ nghề phi nông nghiệp.
  • Thành lập Quỹ hỗ trợ tín dụng vi mô và quản lý tài chính hộ gia đình: Ngân hàng Chính sách Xã hội thị xã An Khê kết hợp cùng Hội Phụ nữ quản lý nguồn vốn ủy thác, hướng dẫn các hộ nhận tiền bồi thường gửi tiết kiệm và tiếp cận các gói vay ưu đãi lãi suất dưới 5%/năm để mở rộng quy mô kinh doanh dịch vụ hoặc phát triển trang trại chăn nuôi gia súc tập trung.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu cung cấp khối lượng dữ liệu thực chứng và góc nhìn thực tiễn chuyên sâu, phù hợp với các nhóm đối tượng sau:

  • Cán bộ quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Các chuyên viên thuộc Sở Nông nghiệp & PTNT, Sở Tài nguyên & Môi trường, và UBND cấp huyện/thị xã cần tài liệu tham khảo để xây dựng khung chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư và quản lý tài nguyên đất bán ngập cho hơn 67.055 cư dân vùng hạ lưu.
  • Chủ đầu tư và các ban quản lý dự án năng lượng: Các tập đoàn, ban quản lý dự án thủy điện và thủy lợi sử dụng báo cáo để đánh giá tác động xã hội (SIA), chuẩn bị kế hoạch hành động tái định cư (RAP) nhằm giảm thiểu 512 vụ việc khiếu kiện phát sinh trong quá trình thi công.
  • Nhà nghiên cứu và chuyên gia kinh tế nông nghiệp: Các nhà khoa học nghiên cứu về kinh tế tài nguyên, sinh kế nông thôn khai thác khung phân tích 5 nguồn lực của DFID được lượng hóa chi tiết trên quy mô 70 hộ khảo sát để phát triển các mô hình kinh tế lượng chuyên sâu.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành: Học viên ngành Kinh tế Nông nghiệp, Quản lý Đất đai, Phát triển Nông thôn sử dụng luận văn như một case study hoàn chỉnh về phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp và kỹ thuật so sánh trước - sau trong đánh giá dự án phát triển.

Câu hỏi thường gặp

Dự án Thủy điện An Khê – Kanak tác động lớn nhất đến nguồn lực sinh kế nào của người dân?
Nguồn lực tự nhiên chịu tổn thương nặng nề nhất. Dự án đã thu hồi 624,4 ha đất nông nghiệp, làm 81,42% số hộ bị thu hẹp diện tích canh tác xuống còn 1,5 ha/hộ và diện tích rừng của các hộ khảo sát giảm gần 80%, gây suy giảm nguồn thu sinh kế truyền thống.

Tại sao việc chuyển dòng nước từ sông Ba sang sông Kone lại gây tranh cãi lớn?
Việc chuyển dòng làm lưu vực hạ lưu sông Ba mất khoảng 9% lượng nước hàng năm, gây kiệt nước nghiêm trọng vào mùa khô và mất an ninh nguồn nước tưới cho 9.332,3 ha đất canh tác của 5 xã, phường thuộc thị xã An Khê.

Hiệu quả sử dụng tiền bồi thường của các hộ dân tái định cư ra sao?
Mỗi hộ nhận trung bình từ 90 đến 170 triệu đồng tiền bồi thường. Nhiều hộ đã tái đầu tư hiệu quả vào chăn nuôi giúp đàn bò tăng lên 49 con, song một bộ phận đáng kể đã chi tiêu vào hàng hóa tiêu dùng không sinh lời do thiếu định hướng tài chính.

Đất bán ngập lòng hồ Thủy điện An Khê – Kanak có tiềm năng sản xuất như thế nào?
Khu vực lòng hồ có khoảng 105 ha đất bán ngập tại xã Xuân An có thể canh tác từ 1 đến 2 vụ màu hoặc trồng cỏ chăn nuôi trong chu kỳ hở đất 9 tháng (từ tháng 1 đến tháng 9) giữa cao trình 427m và 429m.

Các công trình hạ tầng tái định cư đã đáp ứng được yêu cầu của người dân chưa?
Gói hạ tầng 150 tỷ đồng đã cải thiện hệ thống giao thông, trường học và trạm y tế, với 95% hộ hài lòng về diện tích nhà ở. Tuy nhiên, quy hoạch nhà ở dạng chia lô liền kề chưa thực sự phù hợp với tập quán sinh hoạt cộng đồng của đồng bào dân tộc thiểu số.

Kết luận

  • Luận văn lượng hóa toàn diện tác động của dự án Thủy điện An Khê – Kanak trên mẫu khảo sát 70 hộ dân, chỉ ra sự suy giảm diện tích đất canh tác từ 1,9 ha xuống 1,5 ha/hộ.
  • Đề tài chứng minh việc chuyển dòng sang lưu vực sông Kone làm mất 9% lượng nước thường niên, đe dọa trực tiếp khả năng tưới tiêu của 9.332,3 ha đất nông nghiệp hạ du.
  • Nghiên cứu chỉ rõ nghịch lý giữa việc gia tăng nguồn lực vật chất nhờ 150 tỷ đồng đầu tư hạ tầng với sự sụt giảm nguồn lực tự nhiên và 512 đơn thư khiếu nại phát sinh.
  • Đóng góp khoa học cốt lõi của luận văn là đề xuất hệ thống giải pháp liên hoàn khai thác 105 ha đất bán ngập gắn với đào tạo nghề cho 60,5% lao động nông thôn.
  • Về lộ trình tiếp theo, chính quyền địa phương cần nhanh chóng thể chế hóa quy chế sử dụng đất lòng hồ và hỗ trợ kỹ thuật canh tác cho 890 hộ dân trong chu kỳ sản xuất mới.

Quý độc giả, nhà nghiên cứu và các nhà quản lý quan tâm có thể tiếp cận toàn văn luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp để khai thác trọn vẹn bộ số liệu thực địa và các mô hình sinh kế mẫu tại thị xã An Khê.