mở đầu là trình bày tổng quan về Khoá luận như đưa ra tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu của Khoá luận. Chương 2: Cơ sở lý luận về tác động của đòn bẩy tài chính đến giá cổ phiếu của các CTCP: Nội dung Chương 2 Tác giả tập trung vào tổng quan về cơ sở lý luận, các lý thuyết liên quan đến giá cổ phiếu và tác động của đòn bẩy tài chính đến giá cổ phiếu của doanh nghiệp. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu: Trên cơ sở các lý thuyết nêu trên, trình bày cụ thể các bước tiến hành nghiên cứu đề tài trong thực tiễn. Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Nêu ra thực trạng giá cổ phiếu của các CTCP ngành thực phẩm niêm yết trên TTCK Việt Nam và thực trạng tác động của đòn bẩy tài chính lên những cổ phiếu đó.
Dựa trên các số liệu thống kê thực tế thu thập được đưa ra các phân tích, đánh giá, kiểm định sự đúng đắn của mô hình các tác động được xây dựng. Từ đó đưa ra kết quả nghiên cứu và giải thích mô hình đòn bẩy tài chính tác động. Từ những nội dung kết quả nghiên cứu thu được đưa ra một số giải pháp kiến nghị về việc sử dụng đòn bẩy tài chính để đưa ra những hành động có lợi nhất cho hoạt động kinh doanh và giá cổ phiếu của các CTCP ngành thực phẩm niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay. 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁ CỔ PHIẾU THƯỜNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU THƯỜNG 2.
Tổng quan về cổ phiếu 2. Khái niệm cổ phiếu Cổ phiếu là chứng chỉ do CTCP phát hành, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Cổ phiếu phải bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây: Tên, mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính của công ty; Số lượng cổ phần và loại cổ phần; Mệnh giá mỗi cổ phần và tổng mệnh giá số cổ phần ghi trên cổ phiếu; Họ, tên, địa chỉ liên lạc, quốc tịch, số giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với cổ đông là cá nhân; Tên, mã số doanh nghiệp hoặc số giấy tờ pháp lý của tổ chức, địa chỉ trụ sở chính đối với cổ đông là tổ chức; Chữ ký của người đại diện theo pháp luật của công ty; Số đăng ký tại sổ đăng ký cổ đông của công ty và ngày phát hành cổ phiếu; (Khoản 1- Điều 121 - Luật doanh nghiệp 2020). Phân loại cổ phiếu Dựa vào tình trạng đang lưu hành của cổ phiếu, người ta có sự phân biệt cổ phiếu được phép phát hành, cổ phiếu đã phát hành, cổ phiếu quỹ và cổ phiếu đang lưu hành.
- Cổ phiếu được phép phát hành: Là số lượng cổ phiếu tối đa của một công ty cổ phần có thể phát hành từ lúc thành lập cũng như trong quá trình hoạt động; - Cổ phiếu đã phát hành: Là số lượng cổ phiếu của một công ty cổ phần đã bán ra trên thị trường chứng khoán, số lượng nhỏ hơn hoặc bằng với số lượng cổ phiếu được phép phát hành; - Cổ phiếu quỹ: Là loại cổ phiếu của công ty đã phát hành ra với những lí do nhất định công ty bỏ tiền ra mua lại một số cổ phiếu của chính công ty đó; - Cổ phiếu đang lưu hành: Là số cổ phiếu đã phát hành và đang được giao dịch và nắm giữ bởi các cổ đông trên thị trường chứng khoán. Dựa vào hình thức cổ phiếu, người ta có thể phân biệt cổ phiếu ghi danh và cổ phiếu vô danh. - Cổ phiếu ghi danh: Là cổ phiếu có ghi tên người sở hữu trên tờ cổ phiếu. Cổ phiếu ghi danh có nhược điểm là việc chuyển nhượng rất phức tạp, khi muốn chuyển nhượng cho người khác phải đăng ký tại cơ quan phát hành và phải được Hội đồng quản trị của công ty cho phép; - Cổ phiếu vô danh: Là cổ phiếu không ghi tên người sở hữu.
Cổ phiếu vô danh được tự do mua bán chuyển nhượng mà không cần có các thủ tục pháp lý. 5 Thư viện ĐH Thăng Long Dựa vào quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho người nắm giữ, có thể phân biệt được cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi. Đây là cách phân biệt phổ biến nhất. Khi nói đến cổ phiếu của một công ty, người ta thường nói đến cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi.
Tổng quan về cổ phiếu thường Cổ phiếu thường là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần thường của tổ chức phát hành. Người sở hữu cổ phiếu thường là cổ đông thường của doanh nghiệp. Cổ đông thường có quyền trong quản lý, quyền kiểm soát công ty song cũng gánh chịu mọi rủi ro cùng với công ty. Cổ phiếu thường có một số đặc điểm cơ bản như: Cổ phiếu thường là chứng nhận góp vốn không có thời gian đáo hạn và không được hoàn lại vốn.
Ngoài ra, cổ tức của cổ phiếu thường phụ thuộc vào kết quả kinh doanh và chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp. Hơn nữa, khi công ty giải thể, phá sản cổ đông thường là người cuối cùng được hưởng giá trị còn lại của tài sản thanh lý. Tổng quan về giá cổ phiếu thường 2. Mệnh giá cổ phiếu thường Mệnh giá cổ phiếu thường là giá trị ghi trên giấy chứng nhận cổ phiếu.
Tại Việt Nam theo quy định của Luật chứng khoán năm 2019 (Điều 13) thì mệnh giá cổ phiếu thường được ghi bằng đồng Việt Nam và có giá trị là 10.000 đồng/cổ phiếu. Mệnh giá cổ phiếu thường là giá trị danh nghĩa của cổ phiếu thường và không có sự thay đổi theo thời gian. Mệnh giá của cổ phiếu thường không phản ánh giá trị tài sản thực của cổ đông thường. Do đó, trong thực tế mệnh giá cổ phiếu thường không được sử dụng làm thước đo giá cổ phiếu mà chỉ có vai trò trong ghi chép sổ sách kế toán.
Thông thường, với công ty mới thành lập, mệnh giá cổ phiếu được tính như sau: Vốn điều lệ của CTCP Mệnh giá cổ phiếu thường = Tổng số cổ phần đăng ký phát hành 2. Giá trị sổ sách của cổ phiếu thường Giá trị sổ sách của cổ phiếu thường là giá trị của cổ phiếu được xác định dựa trên cơ sở số liệu sổ sách kế toán của doanh nghiệp Trường hợp doanh nghiệp chỉ phát hành cổ phiếu thường thì giá trị sổ sách của một cổ phiếu thường được xác định bằng cách lấy vốn chủ sở hữu hoặc tổng giá trị tài sản thuần của công ty chia cho tổng số cổ phiếu thường đang lưu hành. Trong trường hợp doanh nghiệp phát hành cả cổ phiếu ưu đãi, thì phải lấy tổng giá trị tài sản thuần trừ đi phần giá trị cổ phiếu ưu đãi rồi chia cho tổng số cổ phiếu thường đang lưu hành. 6 Phần giá trị của cổ phiếu ưu đãi được tính theo mệnh giá hoặc giá mua lại tùy thuộc loại cổ phiếu ưu đãi doanh nghiệp phát hành và cộng với phần cổ tức doanh nghiệp còn khất lại chưa trả cho cổ đông ưu đãi các kỳ trước đó (nếu có).
Việc xem xét giá trị sổ sách cho phép cổ đông thấy được số giá trị tăng thêm của cổ phiếu thường sau một thời gian doanh nghiệp hoạt động so với vốn góp ban đầu. Công thức tính giá trị sổ sách cổ phiếu thường như sau: Tổng tài sản − tổng nợ − tổng giá trị cổ phiếu ưu đãi (nếu có) Giá trị sổ sách = Tổng số cổ phiếu thường đang lưu hành 2. Giá trị lý thuyết (giá trị thực) của cổ phiếu thường Giá trị lý thuyết (giá trị thực) của cổ phiếu tại thời điểm hiện tại, được tính toán căn cứ vào cổ tức công ty, triển vọng phát triển của công ty và lãi suất thị trường. Đây là căn cứ quan trọng cho nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào cổ phiếu, đánh giá được giá trị thực của cổ phiếu để so sánh với giá thị trường và lựa chọn phương án hiệu quả nhất.
Giá trị thực của cổ phiếu được tính toán và đo lường bằng các phương pháp khác nhau, tuy nhiên về cơ bản có 2 phương pháp được áp dụng là: phương pháp chiết khấu dòng tiền và phương pháp định giá so sánh. Phương pháp chiết khấu dòng tiền (Discounted Cash Flow, DCF): là phương pháp định giá cổ phiếu thực hiện dựa trên nguyên lý: giá trị nội tại của doanh nghiệp hiện tại là tổng các dòng tiền tương lai mà công ty sẽ trả cho cổ đông của mình. Phương pháp chiết khấu dòng tiền có thể sử dụng cho nhiều loại hình công ty khác nhau. Tuy nhiên độ chính xác và phù hợp của phương pháp này phụ thuộc vào các ước tính về giá trị dòng tiền trong tương lai, tỷ suất chiết khấu và số năm ước tính.
Phương pháp định giá so sánh: Phương pháp định giá so sánh dựa trên cơ sở so sánh các tỷ số định giá tham chiếu để đưa ra giá cổ phiếu phù hợp nhất. 7 Thư viện ĐH Thăng Long P0 = Tỷ số định giá tham chiếu ∗ Giá trị tham chiếu của công ty Tỷ số định giá tham chiếu sử dụng trong phương pháp này có thể là tỷ số P/B (Tỷ số giá cổ phiếu trên giá trị sổ sách), tỷ số P/E (Tỷ số giá trên thu nhập) và P/S (Tỷ số giá trên doanh thu mỗi cổ phiếu). Tỷ số định giá tham chiếu sử dụng để định giá có thể sử dụng tỷ số của ngành, tỷ số ước tính của công ty với các giả định về kỳ vọng trong tương lai hoặc tỷ số của các công ty tương ứng trong cùng ngành. Tương ứng với các tỷ số giá tham chiếu là P/B, P/E và P/S thì giá trị tham chiếu của các công ty lần lượt là BVPS (giá trị sổ sách của một cổ phiếu thường được tính toán bằng cách lấy giá trị VCSH không bao gồm cổ phiếu ưu đãi và chia cho số lượng cổ phiếu thường đang lưu hành), EPS (Thu nhập trên một cổ phiếu thường) và S (doanh thu trên một cổ phiếu thường được tính toán bằng cách lấy doanh thu thuần chia cho số lượng cổ phiếu thường đang lưu hành).
Phương pháp định giá so sánh có ưu điểm cho kết quả nhanh chóng để ra quyết định kịp thời. Hơn nữa, phương pháp này dựa trên cơ sở giá trị thị trường. Tuy nhiên, nhược điểm chính của phương pháp này là phụ thuộc vào kinh nghiệm của người định giá.