chương 1, khóa luận đã đưa ra những lý do cấp thiết để quyết định thực hiện đề tài “Tác động của quản trị vốn lưu động đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp ngành thực phẩm tại Việt Nam”. Kế tiếp, xác định mục tiêu và đặt các câu hỏi nghiên cứu cũng như trình bày đối tượng và phạm vi để nghiên cứu của khóa luận là 30 doanh nghiệp thực phẩm Việt Nam giai đoạn 2012-2022. Thêm vào đó, tác giả cũng đề cập đến phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa đề tài và kết cấu khóa luận. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương 2, tác giả sẽ trình bày các lý thuyết liên quan đến vốn lưu động cũng như các lý thuyết đề cập tới khả năng sinh lợi và sự liên hệ giữa chúng.
Tác giả khảo lược các nghiên cứu đã được công bố rộng rãi, có cùng đề tài và tổng hợp lại để làm nền móng xây dựng và phát triển nội dung của bài nghiên cứu này. VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP NGÀNH THỰC PHẨM 2. Vốn lưu động Trong Giáo trình Tài chính doanh nghiệp (Bùi Văn Vần và Vũ Văn Ninh, 2014), vốn lưu động được tác giả định nghĩa rằng: “Vốn lưu động của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành nên các tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nói cách khác, vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của các tài sản lưu động trong doanh nghiệp”.
Một định nghĩa khác khi nói về vốn lưu động của Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014), được dựa trên quá trình cấu thành vốn lưu động: “Vốn luân chuyển (Working Capital) được định nghĩa là chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn phải trả. Theo nghĩa rộng, vốn luân chuyển là giá trị của toàn bộ tài sản ngắn hạn, những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của công ty. Trong mỗi chu kỳ kinh doanh, chúng chuyển hoá qua tất cả các dạng - tồn tại từ tiền mặt đến hàng tồn kho, khoản phải thu và trở về hình thái cơ bản ban đầu là tiền mặt”. Theo Dương Thị Hồng Vân và Trần Phương Nga (2018): “Vốn lưu động gộp để chỉ toàn bộ tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn được sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”.
Tài sản ngắn hạn ở đây sẽ được bổ sung liên tục để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn phát sinh của doanh nghiệp. Đinh Thế Hùng và Trần Đức Lợi (2018) đã đề cập đến nguồn hình thành nên vốn lưu động của doanh nghiệp như sau: “Vốn lưu động cần phải được tài trợ và có thể đòi hỏi chi phí hoạt động khác, chẳng hạn như tổn thất tín dụng của các khoản phải thu, chi phí lưu kho cho hàng tồn kho. Cùng với các tài sản 6 hữu hình và vô hình, vốn lưu động cũng là một phần của nguồn vốn hoạt động. Nếu lượng vốn lưu động không được đảm bảo sẽ dẫn đến thiếu hụt và gặp khó khăn cho hoạt động kinh doanh hàng ngày” Như vậy, vốn lưu động là một dạng tài sản ngắn hạn, phản ánh tính thanh khoản và đảm bảo nguồn vốn của doanh nghiệp luôn sẵn sàng cho quá trình hoạt động kinh doanh được diễn ra đều đặn và không bị gián đoạn.
Vốn lưu động có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp. Nếu vốn lưu động của doanh nghiệp dương, đồng nghĩa với nợ ngắn hạn nhỏ hơn tài sản ngắn hạn, các tài sản lưu động của doanh nghiệp có tính thanh khoản cao và chi trả tốt các khoản nợ ngắn hạn; ngược lại, doanh nghiệp có vốn lưu động âm tức là tài sản ngắn hạn nhỏ hơn nợ ngắn hạn, thể hiện tính thanh khoản kém và không có đủ tiền mặt để trả các khoản nợ có thời hạn ngắn. Thành phần của vốn lưu động Dựa vào phần phân tích trên về vốn lưu động, có thể xác định được những thành phần chính trong vốn lưu động sẽ có tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn. Theo Ngô Thế Chi và Nguyễn Trọng Cơ (2005) trong Giáo trình Phân tích tài chính doanh nghiệp, các thành phần trong hai yếu tố này như sau: Tài sản ngắn hạn bao gồm tiền và các khoản tương đương tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn, khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác.
Tiền và các khoản tương đương tiền là toàn bộ tiền mặt và những khoản đầu tư ngắn hạn có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt cao như tiền gửi ngân hàng có kỳ hạn, tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng. Đầu tư tài chính ngắn hạn thường bao gồm chứng khoán kinh doanh và các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn. Khoản phải thu ngắn hạn là khoản tiền mà người mua phải trả cho doanh nghiệp khi mua hàng hóa trước và trả tiền sau. Đây là nguồn chủ yếu bổ sung cho vốn lưu động nên cần được giám sát và điều chỉnh thường xuyên.
Dựa vào khoản phải thu khách hàng, doanh nghiệp sẽ xem xét và thay đổi chính sách bán chịu một cách hợp lý. Doanh nghiệp cần cân đối chính sách bán chịu là tỷ lệ chiết khấu cho khách hàng thanh toán trước hạn và lãi suất 7 trả chậm cho phù hợp. Ngoài ra, doanh nghiệp cần phải tính toán và cân nhắc để tiếp tục duy trì lượng vốn lưu động đủ để triển khai những hoạt động khác. Hàng tồn kho là hàng hóa được dự trữ trong kho đang chờ được sản xuất, chế biến hoặc bán ra thị trường tiêu thụ.
Hàng tồn kho có nhiều loại như: nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang và thành phẩm; là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình quản trị vốn lưu động. Việc kiểm soát số lượng hàng tồn kho sẽ tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể sử dụng hàng tồn kho để dự phòng, đầu cơ khi nhu cầu sản phẩm cao hay có biến động giá cả; giúp doanh nghiệp hoạt động liên tục và không tốn nhiều chi phí. Tuy nhiên, doanh nghiệp nên dữ trữ lượng hàng vừa phải và phù hợp.
Vì hàng tồn kho thực chất cũng là tài sản lưu động, việc dự trữ quá nhiều sẽ khiến doanh nghiệp thiếu hụt vốn để tiếp tục hoạt động. Tài sản ngắn hạn khác là nhóm các tài sản ngắn hạn còn lại sau khi đã trừ các tài sản ngắn hạn phía trên, thể hiện giá trị tài sản hoặc chi phí khác có thời gian thu hồi hoặc sử dụng không quá 1 năm. Nợ ngắn hạn bao gồm các mục như: phải trả người lao động, phải trả người bán ngắn hạn, vay ngắn hạn, thuế, v. Trong đó, phải trả người bán và vay ngắn hạn chiếm phần lớn trong mục nợ ngắn hạn.
Khoản phải trả là khoản nợ mà doanh nghiệp mua nguyên vật liệu nhưng chưa thanh toán cho người bán. Trả nợ sớm cho người bán thể hiện doanh nghiệp kinh doanh tốt, có lời. Bên cạnh đó, doanh nghiệp thường sẽ được nhận phần trăm chiết khấu cao hơn khi thanh toán trước thời gian ấn định. Thanh toán chậm sẽ giúp doanh nghiệp có thêm thời gian để sử dụng vốn nhưng đồng thời sẽ chịu khoản chi phí lãi suất trả chậm.
Vay ngắn hạn ở doanh nghiệp thường là các khoản vay ngân hàng có thời hạn không quá 12 tháng. Mục đích vay là nhằm trả nợ cho người bán, giải quyết các khó khăn tạm thời về vốn hay tận dụng thời cơ để phát triển doanh nghiệp. Các khoản vay này cũng có nhiều nguy cơ rủi ro vì lãi suất cao và thời gian ngắn. Khi vay ngắn hạn thường không cần tài sản bảo đảm nhưng một số trường hợp doanh nghiệp có thể dùng hàng hóa trong kho hoặc khoản nợ của khách hàng để thế chấp với ngân hàng.
Vốn lưu động của doanh nghiệp ngành thực phẩm Ngành sản xuất thực phẩm có ý nghĩa rất lớn trong việc xúc tiến và đẩy mạnh tăng trưởng nền kinh tế Việt Nam. Sản phẩm của ngành thực phẩm thường là tươi sống, có thời gian sử dụng ngắn, được tiêu thụ đều đặn và gắn liền với đời sống hằng ngày. Vì vậy, mà vòng quay vốn lưu động ở lĩnh vực này thường nhanh hơn các lĩnh vực khác. Nếu chỉ dựa vào nguồn vốn có sẵn thì các doanh nghiệp thực phẩm sẽ không đủ để đáp ứng nhu cầu cấp bách về vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Do vậy, các doanh nghiệp thực phẩm sẽ hay sử dụng tài trợ từ bên ngoài hoặc thu nợ khách hàng trước hoặc gia hạn thời gian trả nợ mua hàng để bổ sung vốn và giải quyết nhu cầu ngắn hạn của mình. Tuy nhiên, các doanh nghiệp lớn mạnh thì vẫn có đủ nguồn vốn sở hữu và sử dụng vốn có sẵn để giải quyết chi phí ngắn hạn trong quá trình doanh nghiệp hoạt động. Trong khâu sản xuất, một trong những chỉ tiêu có tác động tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động là chu kỳ sản xuất. Hai quá trình quyết định độ dài của chu kỳ sản xuất ngành thực phẩm gồm: thời gian sản xuất và thời gian lưu kho.
Với lượng khách hàng nhiều và ổn định như ngành thực phẩm thì các doanh nghiệp thực phẩm phải rút ngắn hai quá trình này để bảo quản hàng hóa và giải quyết nhu cầu tiêu thụ liên tục. Các doanh nghiệp thực phẩm sẽ thường xuyên kiểm tra và bảo dưỡng máy móc để thúc đẩy quá trình sản xuất. Ngoài ra, còn nâng cấp hệ thống kho bãi để đảm bảo chất lượng cho nguyên vật liệu sản xuất và thành phẩm. Vì vậy, các doanh nghiệp thực phẩm thường có chu kỳ sản xuất ngắn và tối ưu nhằm đẩy nhanh vòng quay vốn lưu động.
Qua những nhận định trên, cho thấy đặc điểm trong vốn lưu động của ngành thực phẩm là: hàng tồn kho có thời hạn lưu trữ ngắn và số vòng quay cao, chu kỳ chuyển hóa tiền mặt nhanh, khoản phải thu và phải trả nhiều nhưng có vòng quay nhanh. Mục đích quản trị vốn lưu động trong nghiên cứu này là giúp doanh nghiệp thực phẩm có thể sử dụng triệt để nguồn vốn sẵn có, tiêu tốn chi phí và rủi ro ít nhất có thể. QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG 2. Khái niệm Theo Huynh Phuong Dong & Jyh-tay Su (2010): “Mục tiêu cơ bản của quản trị vốn lưu động là quản lý tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
Vốn lưu động nên được duy trì ở mức vừa phải, không nên quá nhiều hay quá ít, chỉ cần vừa đủ”. Việc đầu tư vào vốn lưu động là điều nên làm nhưng nên đầu tư phù hợp với đặc điểm và cách thức hoạt động của doanh nghiệp.