Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết và một số nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài đã được thực hiện. Mô hình phân tích sẽ được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết và thực nghiệm này. Chương 3: Xây dựng phương pháp và mô hình nghiên cứu.
Giới thiệu dữ liệu và mô tả các biến số trong nghiên cứu. Chương 4: Tổng quan tình hình di cư trong trường hợp ở Việt Nam trong những năm trở lại đây. Chương 5: Kết quả thực nghiệm sau khi chạy hồi quy và giải thích kết quả xuất hiện trong mô hình. Chương 6: Kết luận tóm lược những vấn đề mà đề tài đã giải quyết.
Từ đó, đưa ra một số gợi ý chính sách. Đồng thời, đưa ra một số hạn chế đề tài nhằm tạo hướng đi cho những nghiên cứu tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Các khái niệm Trẻ em Theo công ước Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em (UNCRC,1989) mà Việt Nam đã phê chuẩn năm 1990 định nghĩa trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn.
(Điều 1, UNCRC) Ở Việt Nam, tùy theo từng lĩnh vực mà pháp luật quy định độ tuổi trẻ em khác nhau, nhằm đảm bảo tính pháp lý và bảo vệ thích hợp cho từng lứa tuổi. Ví dụ: Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định thì “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”, Luật phổ cập giáo dục tiểu học (1991) đã quy định việc giáo dục tiểu học bắt buộc đối với tất cả trẻ em Việt Nam từ 6 đến 14 tuổi; tuy nhiên chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam hiện nay là 12 năm, cho nên độ tuổi thông thường trong giáo dục phổ thông hiện nay của Việt Nam là từ 6-18 tuổi. Theo bộ luật lao động Việt Nam (số 10/2012/QH13) thì định nghĩa người lao động là trên 15 tuổi có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động (Điều 3) và những người lao động dưới 18 tuổi là lao động chưa thành niên (Điều 161). Với mục đích riêng của bài nghiên cứu liên quan đến phúc lợi của trẻ em với khía cạnh giáo dục và tình trạng lao động trẻ em và dựa vào định nghĩa UNCRC, luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, luật phổ cập giáo dục tiểu học và luật lao động ở Việt Nam thì tác giả sẽ giới hạn lứa tuổi trẻ em trong nghiên cứu này là từ 6-18 tuổi.
Định nghĩa này sẽ được sử dụng trong suốt bài nghiên cứu. Phúc lợi cuả trẻ em Có rất nhiều cách đo lường đánh giá phúc lợi của trẻ em. Một trong những cách tiếp cận đánh giá phúc lợi của trẻ em mà nhiều nghiên cứu thực hiện là dựa vào các quyền trẻ em mà đã được UNCRC (1989) đề cập đến trong công ước về quyền trẻ em theo các tiêu chuẩn cao nhất về sức khỏe và giáo dục, và quyền được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 tự do trong phân biệt đối xử, bóc lột và ngược đãi. Từ định nghĩa này mà một số nhà nghiên cứu đánh giá phúc lợi trẻ em thông qua các nhóm chỉ số đo lường của các biến về: y tế, giáo dục, hoạt động kinh tế và tâm lý xã hội của trẻ em (UNICEF, 2011).
Trong nghiên cứu này cũng dựa vào định nghĩa UNCRC và các nghiên cứu liên quan như của UNICEF (2011) để đánh giá phúc lợi của trẻ em. Bài nghiên cứu này chỉ giới hạn đánh giá phúc lợi của trẻ em thông qua hai yếu tố được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu là yếu tố giáo dục và yếu tố lao động. Với định nghĩa trong nghiên cứu này thì phúc lợi trẻ em được gia tăng khi mà tình trạng giáo dục được cải thiện, trẻ em được quan tâm đến việc học tập và dẫn tới làm giảm khả năng tham gia vào các hoạt động kinh tế của trẻ em. Ngược lại phúc lợi của trẻ em bị suy giảm khi mà trẻ phải lao động nhiều hơn và không được học tập.
Với mục tiêu nghiên cứu này thì bài nghiên cứu xem xét di cư lao động có tác động làm tăng phúc lợi hay làm giảm phúc lợi của trẻ Di cư lao động Theo định nghĩa trong tài liệu "giải thích thuật ngữ về di cư" của tổ chức di cư quốc tế (IOM, 2011) di cư lao động là "Sự di chuyển người từ quốc gia này sang quốc gia khác, hoặc trong phạm vi quốc gia cư trú của họ, với mục đích làm việc". Việc di chuyển này có thể là tạm thời hoặc lâu dài. Người di cư Theo định nghĩa của IOM (2011) thì vẫn chưa có một định nghĩa được chấp nhận chung nào trên cấp độ quốc tế về “người di cư”. Thuật ngữ “người di cư” thường được hiểu bao hàm mọi trường hợp di cư do cá nhân tự quyết định vì lý do “tiện ích cá nhân” mà không có sự can thiệp của nhân tố bắt buộc bên ngoài.
Thuật ngữ này cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình, di chuyển tới một nước hoặc đơn vị lãnh thổ khác để cải thiện điều kiện xã hội và vật chất của họ và mở tương lai cho họ và gia đình. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Định nghĩa của IOM dựa trên luật di cư quốc tế nên chỉ đề cập đến những người di cư đến quốc gia khác. Từ định nghĩa này ta cũng có thể hiểu rộng hơn về hình thức di cư không chỉ quốc tế mà còn bao hàm về di cư trong nước. Khi mà người di cư từ đơn vị lãnh thổ này đến đơn vị lãnh thổ khác trong trong phạm vi một quốc gia.
Người di cư ngắn hạn và di cư dài hạn Theo định nghĩa của IOM (2011) thì người di cư ngắn hạn là người di chuyển đến nơi khác không phải là nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất ba tháng nhưng chưa tới một năm, trừ trường hợp di chuyển vì mục đích giải trí, du lịch, nghỉ lễ, thăm bạn bè, họ hàng, đi công việc hoặc chữa bệnh. Đối với người di cư dài hạn là người di chuyển đến nơi khác không phải là nơi cư trú thường xuyên của họ trong khoảng thời gian ít nhất một năm. Từ định nghĩa về người di cư dài hạn và di cư ngắn hạn bên trên và cũng như trong bối cảnh của bài nghiên cứu này và số liệu từ dữ liệu bộ điều tra VHLSS2012 thì người di cư lao động được chia thành hai nhóm: Nhóm người di cư lao động ngắn hạn là những người đang là thành viên trong hộ hoặc từng là thành viên trong hộ rời khỏi hộ ít nhất là 6 tháng nhưng chưa tới 1 năm vì lý do việc làm. Với dữ liệu của bộ VHLSS 2012 thì di cư ngắn hạn là những người rời khỏi hộ ít nhất 6 tháng trong năm 2011 và 2012.
Nhóm người di cư lao động dài hạn: là những người đang là thành viên trong hộ hoặc từng là thành viên trong hộ đã rời khỏi hộ trên 1 năm vì lý do công việc. Với dữ liệu VHLSS 2012 thì nhóm người này là những người rời khỏi hộ trước năm 2011. Với định nghĩa về người di cư lao động trong ngắn hạn và dài hạn đã nêu trên thì trong nghiên cứu này chỉ xem xét đến nhóm người di cư vì mục đích vì LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 việc làm và không tính đến các mục đích di cư khác có trong bộ dữ liệu VHLSS 2012. Một số lý thuyết về di cư 2.1 Lý thuyết về hai khu vực của Lewis Mô hình 2 khu vực của Lewis (1954) giải thích việc di chuyển lao động giữa hai khu vực nông nghiệp truyền thống và công nghiệp hiện đại.
Khi công nghệ thay đổi, việc áp dụng công nghệ làm cho năng suất lao động tăng và nhu cầu sử dụng lao động trong nông nghiệp truyền thống giảm. Khi thay đổi công nghệ đến một ngưỡng nào đó thì không cần nhiều người làm việc trong khu vực nông nghiệp nữa và dẫn đến nhu cầu sử dụng lao động trong nông nghiệp truyền thống giảm. Lúc này, dù có bổ sung lao động vào khu vực nông nghiệp thì tổng sản phẩm của khu vực nông nghiệp không thay đổi. Trong khi ngành công nghiệp là nơi có nhu cầu thu hút thêm lao động.
Do đó, lao động dư thừa trong nông nghiệp sẽ chuyển ra khỏi khu vực truyền thống và vì tiền công trong khu vực công nghiệp cao hơn mức đủ sống tối thiểu trong khu vực nông nghiệp để bù đắp chi phí di chuyển của người lao động. Mô hình của Lewis có những hạn chế xuất phát từ chính những giả định có thể không xảy ra trên thực tế: Giả định thứ nhất là tỷ lệ lao động thu hút từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp tương ứng với tỷ lệ vốn tích lũy của khu vực này. Trên thực tế, không có gì đảm bảo rằng nhà tư bản công nghiệp khi thu được lợi nhuận chỉ có tái đầu tư. Giả định thứ hai rằng nông thôn là khu vực dư thừa lao động sẽ dịch chuyển sang khu vực thành thị.
Thực tế, khu vực nông thôn cũng có thể tự giải quyết tình trạng dư thừa lao động thông qua các hình thức tạo việc làm tại chỗ. Giả định thứ ba là tiền lương công nhân cố định khi khu vực nông thôn còn dư thừa lao động. Trên thực tế, vì khu vực công nghiệp cần thu hút lao động có tay nghề cao và áp lực từ hoạt động của các tổ chức công đoàn dẫn đến mức tiền công khu vực công nghiệp có thể tăng lên. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Lý thuyết hút đẩy (the push pull theory of migration) Lee (1966) đã xây dựng lý thuyết hút đẩy trên cơ sở tóm tắt các quy luật di cư của Ravenstein ở thế kỷ 19 và phân loại các nhóm ảnh hưởng đến quá trình di cư.
Theo ông, quyết định di cư được xác định bởi 4 yếu tố chính: (1) Đặc điểm của nguồn gốc nơi người di cư tiềm năng cư trú, (2) Đặc điểm của điểm đến, (3) Các yếu tố cản trở di cư (chi phí, khoảng cách, rào cản vật lý, luật di trú,v.v), (4) Yếu tố cá nhân thuộc về người di cư. Một người di cư tiềm năng sẽ xem xét sự cân bằng của tất cả các yếu tố sự hấp dẫn của điểm đến cùng với khó khăn của các trở ngại và yếu tố tác động để quyết định di cư.