Đặt vấn đề nghiên cứu Nâng cao năng suất là một trong những vấn đề rất được quan tâm từ trước đến nay trên khắp thế giới.Trong môi trường cạnh tranh và điều kiện các nguồn lực phát triển ngày càng khan hiếm thì vấn đề gia tăng năng suất cần được chú trọng nhiều hơn nữa. Do vậy mà việc đo lường năng suất cũng như xem xét sự biến động của nó được các nhà kinh tế - hoạch định chính sách nghiên cứu nhiều. Một chỉ tiêu quan trọng khi nói đến năng suất được sử dụng rộng rãi trong phân tích kinh tế gần đây là năng suất nhân tố tổng hợp (Total Factor Productivity, viết tắt TFP). Năng suất nhân tố tổng hợp không chỉ giải thích cho chất lượng tăng trưởng kinh tế, sự phát triển khác nhau giữa nền kinh tế các nước mà còn đo lường sự biến động kinh tế và chu kỳ kinh doanh (Comin and Mark, 2006).
Năng suất nhân tố tổng hợp cao hơn cho thấy mức độ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật tốt hơn, nâng cao khả năng sản xuất của nền kinh tế, trình độ quản lý hiện đại, kinh tế phát triển bền vững và ổn địNh. Như chúng ta đã thấy, các nước công nghiệp phát triển đạt năng suất cao bởi vì họ đã không ngừng đổi mới công nghệ áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất và điều này đóng góp 46% - 71% vào tổng sản lượng đầu ra trong khi tỷ lệ này ở mức độ thấp cho các khu vực còn lại (Kim and Lau 1994). Nhận thức được điều này các nước đang phát triển nhất là ở nhóm nước có thu nhập trung bình- thấp (nơi mà kinh tế cần nhiều vốn, trình độ khoa học công nghệ còn lạc hậu…) thực thi chính sách mở cửa tài chính quốc tế rộng rãi tận dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài kích thích tăng trưởng kinh tế. Trong đó kênh chuyển giao công nghệ chính tại các nước chưa phát triển là đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign direct Investment, viết tắt FDI), là con đường ngắn- nhanh để rút ngắn khoảng cách chênh lệch công nghệ giữa nước công nghiệp phát triển và nước chưa phát triển.
Bởi vì, thứ nhất, đầu tư trực tiếp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 nước ngoài góp phần bù đắp thiếu hụt nguồn vốn đầu tư trong nước; thứ hai là những lợi ích liên quan tới khoa học, công nghệ mới, khả năng quản lý, kỹ năng lao động, tạo thêm nhiều việc làm, cải tiến điều kiện làm việc cho người lao động, thúc đẩy sự phát triển trong lĩnh vực mà họ đầu tư… qua đó tăng năng suất quốc gia. Trong những thập kỷ vừa qua, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã có sự gia tăng nhanh chóng trên toàn thế giới, từ mức trung bình hàng năm 142 tỷ USD trong những năm 1985-1990 lên hơn 385 tỷ USD năm 1996; đến năm 2007, FDI đạt mức 1,9 nghìn tỷ USD (UNCTAD, 2009). Tuy nhiên năm 2008, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khiến cho dòng vốn FDI sụt giảm 14% (chỉ còn 1,7 nghìn tỷ USD) và 1,2 nghìn tỷ USD năm 2009. Cho đến năm 2010, đã đánh dấu sự gia tăng trở lại của FDI toàn cầu tăng 15% so với năm 2009, FDI tiếp tục gia tăng trong năm 2011 đạt mức 1,5 nghìn tỷ USD (UNCTAD, 2012).
Các quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Những nước này đã gia tăng tỷ lệ FDI trong tổng nguồn vốn FDI toàn cầu hàng năm chảy vào nước mình từ 15% năm 1990 lên 37% năm 2008 (UNCTAD, 2009) và sau đó gần 46% năm 2011 (UNCTAD, 2012). Sự gia tăng của dòng vốn FDI từ năm 1990 cho thấy các công ty đa quốc gia đã nhận thấy được khả năng sinh lợi tiềm năng từ những nước này. Do đó, một câu hỏi lớn đặt ra đối với các nhà làm chính sách tại các nước đang phát triển là liệu dòng vốn ngoại này có được sử dụng hiệu quả góp phần chuyển giao công nghệ, tăng năng suất cho kinh tế quốc gia đúng như kỳ vọng của các nước sở tại hay không?.
Kết quả trả lời câu hỏi trên sẽ là căn cứ cho việc hoạch định chính sách mở cửa kinh tế phù hợp thúc đẩy kinh tế tăng trưởng bền vững. Vì thế bài luận văn này tập trung thảo luận về “ Tác động của FDI đến năng suất nhân tố tổng hợp “ ở phạm vi vĩ mô cho các nước đang phát triển có thu nhập trung bình- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 thấp là cần thiết, không những vì chính bản thân tầm quan trọng của nó mà còn vì ảnh hướng lớn đến nền kinh tế nước chủ nhà. Mục tiêu nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài Mục tiêu của bài luận văn là kiểm tra tác động FDI đến năng suất nhân tố tổng hợp khảo sát tại các nước đang phát triển có thu nhập trung bình và thấp nhằm: - Cung cấp một bức tranh tổng quan về ảnh hưởng của FDI đến năng nhân tố tổng hợp. - Bổ sung thêm bằng chứng thực nghiệm và đánh giá về mối quan hệ giữa dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và TFP.
- Rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam dựa vào kết quả phân tích. Đối tƣợng và phạm vị nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Tác động của FDI đến TFP - Phạm vi nghiên cứu: Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng hàng năm của 18 nước đang phát triển có thu nhập trung bình và thấp bao gồm: Ấn độ, Indonesia,Thái lan, Việt Nam, Philipines, Mongolia, Srilanka, Iran, Pakistan, Brazil, Colombia, Peru, Egypt, Ecuador, Morocco, Algeria, Bolivia, South Africa trong giai đoạn từ 1996 đến 2012. Các dữ liệu này được trích từ bảng dữ liệu hàng năm của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và The Conference Board Total Economy Database 2014 (Hiệp hội kinh doanh và nghiên cứu toàn cầu). Phƣơng pháp nghiên cứu Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng bằng dữ liệu bảng để ước lượng mối quan hệ giữa FDI và TFP với mô hình tác động cố định (Fixed effect model, viết tắt FEM) hay mô hình tác động ngẫu nhiên (Random effect model, viết tắt REM).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Bên cạnh đó, để lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp cho việc ước lượng dữ liệu bảng hàng năm, bài nghiên cứu thực hiện một số kiểm định gồm: kiểm định F (kiểm định lựa chọn giữa mô hình Pooled OLS và FEM); kiểm định Hausmantest do Hausman xây dựng năm 1978 cho phép lựa chọn giữa mô hình theo FEM và REM; kiểm định Breusch- Pagan Lagrangian (kiểm định này cho phép lựa chọn giữa mô hình tác động ngẫu nhiên và mô hình Pools OLS với giả thuyết H0- Mô hình Pools OLS là phù hợp). Bài nghiên cứu sử dụng phần mềm Stata 11 để chạy mô hình nghiên cứu. Kết cấu của báo cáo nghiên cứu Kết cấu của bài nghiên cứu gồm 4 chương: Chƣơng 1: Trình bày tổng quan lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài và năng suất nhân tố tổng hợp, làm rõ khái niệm và quan điểm chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài, năng suất nhân tố tổng hợp cũng như đưa ra các quan điểm mà khu vực FDI tác động đếnTFP. Chương này còn nêu một số nghiên cứu trước đó trong và ngoài nước về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên năng suất nhân tố tổng hợp.
Chƣơng 2:Trình bày phương pháp, dữ liệu và mô hình nghiên cứu trong đó mô tả chi tiết về mô hình thực nghiệm FEM, REM Chƣơng 3: Mô tả kết quả các kiểm định lựa chọn mô hình phù hợp và kết quả phân tích với mô hình đó. Chƣơng 4: Kết luận và một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ kết quả nghiên cứu các quốc gia. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀ NĂNG SUẤT NHÂN TỔ TỔNG HỢP 1.1 Khái quát chung về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) 1.1 Khái niệm về đầu tƣ trực tiếp ngoài (FDI) Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được định nghĩa là: một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác.
Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác ấy. Theo Hội nghị Liên hợp quốc tế về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), luồng vốn FDI bao gồm vốn được cung cấp (trực tiếp hoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cho các doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được từ doanh nghiệp FDI. Đầu tư trực tiếp nước ngoài gồm có ba bộ phận: vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tư và các khoản vay trong nội bộ công ty. Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra định nghĩa như sau: đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước tiếp nhận đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.
Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.Trong phần lớn các trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là công ty mẹ và các tài sản được gọi là công ty con hay chi nhánh công ty. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Từ những khái niệm trên, có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: FDI tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào vào quốc gia ấy để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia này, với mục tiêu tối đa hóa lợi ích của mình. Tài sản trong khái niệm này, theo thông lệ quốc tế, có thể là tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bất động sản, các loại hợp đồng và giấy phép có giá trị…), tài sản vô hình (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ,…). Như vậy FDI bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có nhân tố nước ngoài.