CHƯƠNG 1: TONG QUAN TÀI LIEU NGHIÊN CỨU 1.1 Về tác động của FDI đối với HDI của các nước và khu vực khác nhau trên thế giới - Bai nghiên cứu “Phân tích tác động FDI đến phúc lợi xã hội: Dẫn chứng từ các quốc gia châu A” của hai tác giả Dinh Hồng Lang và Trần Văn Nguyện công bố chính thức vào năm 2018 đã phân tích tác động của dòng vốn đầu tư nước ngoài FDI đến phúc lợi xã hội ở một số nước châu A trong giai đoạn 1990 — 2015. Từ đó chỉ ra sự phân b6 không đồng đều trong mối quan hệ giữa FDI và chỉ số phát triển con người (HDI) giữa các quốc gia. - Theo Bao cáo nghiên cứu “Các yếu tổ anh hưởng đến sự phát triển Kinh tế - Xã hội của Dân tộc thiểu số tại Việt Nam” do Ngân hàng thé giới tại Việt Nam hợp tác voi Ủy ban Dân tộc thực hiện năm 2019, Việt Nam hiện là quốc gia có thu nhập trung bình thấp, nhưng khoảng cách phát triển giữa các Dân tộc thiểu số và nhóm đa số vẫn tồn tại và ngày càng nới rộng. Bài báo cáo đã sử dụng cả phương pháp định lượng và định tính dé làm rõ các những yếu tổ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của các nhóm dân tộc, đưa ra xếp hạng các nhóm dân tộc theo chỉ số phát triển con người (HDI) và chỉ nghèo đa chiều (MPI) dựa theo các số liệu thu thập, cập nhật mới nhất và thực hiện khảo sát định tính.
- Tiéu luận “Tinh hình và xu hướng phát triển của FDI trên thégiới ” của tac giả Nguyễn Thị Thu Huyền công bố năm 2011 đã đưa ra góc nhìn tổng quan về tình hình phát triển FDI trên thế giới đến năm 2010 và dự báo xu hướng phát triển những năm tiếp theo, đồng thời thực trạng và hạn chế trong việc thu hút vốn FDI vào Việt Nam, từ đó đưa ra giải pháp cho các năm tới. - Bai báo “Tac động của tăng trưởng kinh tế đến phát triển con người tại Việt Nam: Vấn để và giải pháp” của GS.TS Ngô Thắng Lợi và PGS.TS Bùi Đức Tuân công bố năm 2019 trên Tạp chí Cộng sản đã đánh giá ảnh hưởng tích cực của tăng trưởng kinh tế đến phát triển cong người đang có xu hướng giảm dần thông qua tính toán mức chênh lệch thứ hạng GNLUngười với thứ hạng HDI; hệ số tăng trưởng vì con người; đường vành đai phát triển con người dựa trên số liệu tính toán từ Báo cáo phát triển con người của UNDP và các số liệu liên quan, từ đó đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích cực. Luận văn “7c trang và giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian tới” của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Anh công bố năm 2017 đã phân tích sự quan trọng của việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, đồng thời đưa ra những nhân tố ảnh hưởng việc thu hút FDI vào Việt Nam về điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị - xã hội và cơ sở hạ tầng kĩ thuật. Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập đến kinh nghiệm thu hút FDI của một số quốc gia châu Á và đi sâu vào phân tích thực trạng thu hút vốn đầu tư vào Việt Nam giai đoạn từ năm 1988 đến năm 2015.
Trong bài nghiên cứu “Impact of Foreign Direct Investment on Human Development Index in Nigieria ” công bố vào năm 2018 trên Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, nhóm tác giả Korhan, Martins và Nigar đã tìm hiểu tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến chi số phát triển con người (HDI) tại Nigieria giai đoạn 1972 — 2013, từ đó rút ra mối quan hệ hai chiều trong đài hạn giữa dau tư trực tiếp nước ngoài và chỉ số phát triển con người. Bai nghiên cứu “The effects of Foreign Direct Investment on Human Development” của hai tác gia Basu Shama va Azmat Gani công bố năm 2007 trên Tap chi Kinh tế Thế giới đã xem xét anh hưởng của đầu tu trực tiếp nước ngoài (FDI) đến phát triển con người thông qua chi số phát triển con người (HDI) ở các nước có mức thu nhập trung bình và thấp trong giai đoạn 1975 — 1999 được đánh giá bằng mô hình hồi quy. Trong bai nghiên cứu “Chinese FDI in Vietnam: Trends, Status and Challenges” công bố năm 2019, tác giả Lam Thanh Hà đã phân tích về dau tu trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam từ năm 2011. Bài nghiên cứu đã đưa ra những lợi ích cũng như hạn chế về dòng vốn FDI từ Trung Quốc, và đưa ra vấn đề nguồn vốn FDI từ Trung Quốc vẫn chưa thực sự được đón nhận cũng như được sử dụng hiệu quả tại Việt Nam.
Nghiên cứu “4 revision on the effect of FDI on Inequality-Adjusted Human development Index” của các tác giả Cao Thị Hồng Vinh, Nguyễn Thi Ngân Ha và Phạm Hồng Diễn với phạm vi địa lý điều tra trên 23 quốc gia Châu Á từ năm 2013 đến 2015 đã ghi nhận tác động đáng ké về mặt thống kê của FDI đối với phát triển con người như bất bình đăng thu nhập được kiểm soát. Mặc dù FDI đã làm tăng bất bình đăng thu nhập ở những nước này nhưng ngược lại nó làm giảm thiểu bất bình đăng trong giáo dục. Tuy nhiên, dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu trên vẫn còn khá rời rạc, không có tính đại diện cao. Ngoài ra nghiên cứu cũng chưa tính toán đến vấn đề bối cảnh, lịch sử, văn hóa tiềm ân bên trong mỗi quốc gia nên kết quả trên vẫn còn nhiều sai lệch.
Nghiên cứu “Analysis of the Impact of Foreign Direct Investment on Social Development in Indonesia and Other ASEAN Countries” đã phan tích tác động của dau tu trực tiếp nước ngoài đến phát triển xã hội ở Indonesia và các nước ASEAN khác, Santosa (2014) đã tập trung nghiên cứu vào Indonesia và các nước ASEAN khác nhau sau cuộc khủng hoảng tài chính trong giai đoạn 1999-2012. Bài báo đã minh họa ảnh hưởng không rõ ràng của FDI tại 7 nước ASEAN bao gồm Singapore, Malaysia, Brunei, Thái Lan, Lào,Việt Nam và Campuchia. Tuy nhiên các ảnh hưởng tích cực của FDI chỉ được ghi nhận rõ ràng ở Việt Nam và Myanmar, Những ảnh hưởng tiêu cực thì được nhìn thay ở Philippines cũng được tìm ra ở nghiên cứu nảy. - Nghiên cứu “Human Developmentand Foreign Direct Investment in Developing Countries: The Influence of FDI Policy and Corruption” của hai tac giả S.
Kevin Steensma công bố năm 2010 nhận thấy tác động tích cực của FDI đối với HDI bằng cách sử dụng đữ liệu của 49 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1980-2005. - - Nghiên cứu “Foreign Direct Investment and Growth in ASEAN-4 Nations” của tác giả Yasmine Merican và cộng sự công bố năm 2019 đã kiểm tra tác động của FDI và Tổng đầu tư trong nước đối với tăng trưởng ở Malaysia, Thái Lan, Indonesia và Philippines- nước nhận FDI đáng ké trong các nước đang phát triển trong ba thập ky qua. - - Nghiên cứu “The interaction between FDI, output and the spillover varaiables: co-integration and VA analyses for APEC, 1965-1999” của Bende- Nabendem và cộng sự (2003) đã chứng minh FDI có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của một số quốc gia đang phát triển như Thái Lan, Philipines nhưng lại có tác động tiêu cực tới một số quốc gia phát triển như Nhật Ban, Đài Loan.2 Về tác động của FDI đối với HDI tại Việt Nam Về đánh giá thực trang và phân tích tình hình FDI tại Việt Nam, tiêu luận “Tình hình và xu hướng phát triển của FDI trên thế giới” của tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền công bố năm 2011 đã đưa ra góc nhìn tổng quan về tình hình phát triển FDI trên thé giới đến năm 2010 va dự báo xu hướng phát triển những năm tiếp theo, đồng thời thực trạng và hạn chế trong việc thu hút vốn FDI vào Việt Nam, từ đó đưa ra giải pháp cho các năm tới. Cùng với đó, Luận văn “Thực trạng và giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian tới” của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Anh công bố (2017) đã phân tích sự quan trọng của việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, đồng thời đưa ra những nhân tố ảnh hưởng việc thu hút FDI vào Việt Nam về điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị - xã hội và cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập đến kinh nghiệm thu hút FDI của một số quốc gia châu Á và đi sâu vào phân tích thực trạng thu hút von đầu tư vào Việt Nam giai đoạn từ năm 1988 đến năm 2015. Trong bài nghiên cứu “Chinese FDI in Vietnam: Trends, Status and Challenges” công bố năm 2019, tác giả Lam Thanh Hà, từ góc nhìn của nước đầu tư Trung Quốc, tác giả đã phân tích về đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam từ năm 2011. Bài nghiên cứu đã đưa ra những lợi ích cũng như hạn chế về dòng vốn FDI từ Trung Quốc, và đưa ra vấn đề nguồn vốn FDI từ Trung Quốc vẫn chưa thực sự được đón nhận cũng như được sử dụng hiệu quả tại Việt Nam. Về tốc độ tăng trưởng các chỉ số chất lượng cuộc sống, theo Báo cáo nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển Kinh tế - Xã hội của Dân tộc thiéu số tại Việt Nam” do Ngân hàng thế giới tại Việt Nam hợp tác với Ủy ban Dân tộc thực hiện năm 2019, Vì ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của các nhóm dân tộc, đưa ra xếp hạng Việt Nam hiện là quốc gia có thu nhập trung bình thấp, nhưng khoảng cách phát triển giữa các Dân tộc thiểu số và nhóm đa số vẫn tôn tại và ngày cảng nới rộng.
Bài báo cáo đã sử dụng cả phương pháp định lượng và định tính dé làm rõ các những yếu tố ảnh các nhóm dan tộc theo chi số phát triển con người (HDI) và chỉ nghèo đa chiều (MPI) dựa theo các số liệu thu thập, cập nhật mới nhất và thực hiện khảo sát định tính. Cụ thể hơn trong việc cải thiện các chỉ số giáo dục, nghiên cứu “Việt Nam Nâng cao chất lượng giáo dục cho mọi người đến năm 2020” do UNDP kết hợp với WorldBank đã xem xét những thay đổi diễn ra đối với giáo dục tiểu học và trung học trong vòng 20 năm (1999-2019) cũng như những yếu tố chính tác động tới những kết quả có ý nghĩa quan trọng trong giáo dục như tỷ lệ học sinh đi học, trình độ học vấn và kết quả học tập dé từ đó đề ra những đề xuất liên quan tới chính sách giáo dục công.