Chương 1: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu. Dựa trên những tranh luận xung quanh cơ chế bên trong của đa dạng hóa xuất khẩu và kênh truyền dẫn đến tăng trưởng kinh tế, ba nhóm giả thuyết nghiên cứu được xây dựng. Sau đó, cách thức cụ thể để kiểm định các giả thuyết này được làm rõ với việc chỉ định mô hình kinh tế lượng, chọn mẫu nghiên cứu và thu thập dữ liệu cần thiết. Ngoài ra, phương pháp ước lượng các mô hình này sẽ được thảo luận một cách chi tiết nhằm đảm bảo độ tin cậy của các ước lượng.
Chương 2: Kết quả và thảo luận. Với phương pháp nghiên cứu được trình bày trong chương 3, chương 4 báo cáo những kết quả nghiên cứu tìm được và giải quyết các câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra. Các kết quả ước lượng sau đó được thảo luận và suy diễn một cách khách quan, hợp lý nhằm xây dựng hiểu biết vững chắc về tác động của đa dạng hóa xuất khẩu đến tăng trưởng kinh tế. 8 Chương 3: Kết luận, ngụ ý chính sách và hạn chế của đề tài.
Chương này tóm tắt những kết quả chính tìm được trong quá trình nghiên cứu, trước khi đưa ra những ngụ ý chính sách hợp lý cho các nước đang phát triển với chính sách thương mại hướng đến đa dạng hóa xuất khẩu. Những hạn chế của nghiên cứu cũng được phân tích nhằm gợi ý hướng nghiên cứu sâu hơn cho những nghiên cứu tiếp theo. 9 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐA DẠNG HÓA XUẤT KHẨU 1. Khái niệm và đo lường Trước khi đi xa hơn đến tác động tiềm năng của đa dạng hóa xuất khẩu đến tăng trưởng kinh tế cũng như bằng chứng thực nghiệm cho những tác động đó, chúng ta cần định nghĩa rõ ràng và phân loại chi tiết đa dạng hóa xuất khẩu.
Khái niệm đa dạng hóa xuất khẩu Đa dạng hóa xuất khẩu là gì? Một số học giả đưa ra định nghĩa cho đa dạng hóa xuất khấu. Đa dạng hóa xuất khẩu được định nghĩa là sự thay đổi trong cấu thành của rổ hàng hóa xuất khẩu hiện tại của một quốc gia (Ali et al. Đó có thể là cấu thành theo sản phẩm hay đối tác xuất khẩu. Ở một góc nhìn khác, Berthélemy and Chauvin (2000) cho rằng đa dạng hóa sản xuất và xuất khẩu đề cập đến sự trải đều hơn của hoạt động sản xuất và xuất khẩu trên các ngành/lĩnh vực khác nhau.
Saviotti and Frenken (2008) lại định nghĩa một cách đơn giản hơn, đa dạng hóa xuất xuất khẩu là sự thay đổi cấu trúc xuất khẩu của một quốc gia. Ba định nghĩa trên đã nêu lên một hoặc một vài khía cạnh về đa đạng hóa xuất khẩu. Tựu chung lại, đa dạng hóa xuất khẩu trước hết đề cập đến một quá trình. Thứ hai, đó là quá trình thay đổi trong cấu trúc xuất khẩu của một quốc gia.
Song, quan trọng hơn, sự thay đổi đó cần phải theo hướng làm cho cấu trúc xuất khẩu đa dạng hơn. Đa dạng hóa xuất khẩu được hiểu là quá trình trong đó các quốc gia chuyển dịch cấu trúc xuất khẩu hiện tại sang một cấu trúc xuất khẩu đa dạng hơn. Câu hỏi tiếp theo cần giải quyết là: Thế nào cấu trúc xuất khẩu? Và thể nào là đa dạng hơn? 1. Các dạng thức của đa dạng hóa xuất khẩu Brenton and Newfarmer (2007) đưa ra câu trả lời cho hai câu hỏi trên với việc phân loại các dạng thức khác nhau của đa dạng hóa xuất khẩu.
Theo đó, đa dạng hóa cấu trúc xuất khẩu có thể là (i) đa dạng hóa về chủng loại hàng hóa và chất lượng (xuất 10 khẩu nhiều mặt hàng hơn với chất lượng cao hơn), (ii) đa dạng hóa ngành/lĩnh vực xuất khẩu (xuất khẩu ở nhiều ngành kinh tế hơn, hay mở rộng xuất khẩu cả về hàng hóa và dịch vụ), hoặc (iii) đa dạng hóa về đối tác thương mại (xuất khẩu đến nhiều quốc gia hơn). Như vậy, cho câu hỏi thứ nhất, cấu trúc xuất khẩu được hiểu là cấu trúc theo sản phẩm/ngành (tổng xuất khẩu được cấu thành từ những sản phẩm/ngành nào, với tỷ trọng bao nhiêu) hoặc cấu trúc theo đối tác thương mại (xuất khẩu đến nước đối tác nào, với tỷ trọng bao nhiêu). Cách hiểu này kéo theo sự phân chia đa dạng hóa xuất khẩu thành hai dạng chính: đa dạng hóa xuất khẩu theo sản phẩm/ngành và đa dạng hóa xuất khẩu theo đối tác thương mại. Đa dạng hóa theo sản phẩm/ngành đạt được bằng cách mở rộng giỏ hàng hóa xuất khẩu hiện có.
Trong khi đó, đa dạng hóa theo đối tác thương mại là sự mở rộng thị trường xuất khẩu (Hinlo and Arranguez, 2017). Cho câu hỏi thứ hai, có thể thấy định nghĩa của Brenton and Newfarmer (2007) và Hinlo and Arranguez (2017) chỉ đề cập đến đa dạng hóa như một sự mở rộng xuất khẩu những sản phẩm/ngành mới hay thâm nhập thị trường mới. Cách định nghĩa này loại trừ khả năng cấu trúc xuất khẩu vẫn trở nên đa dạng hơn dù không có hàng hóa mới nào được xuất khẩu hay không có thị trường mới nào được khai phá. Đó là khi tỷ trọng xuất khẩu trở nên cân bằng hơn giữa các sản phẩm/ngành hoặc giữa các nước đối tác.
Cân bằng hơn được hiểu là bớt tập trung hơn, hay bớt phụ thuộc hơn vào một số ít ngành/sản phẩm hay bạn hàng xuất khẩu. Khi đó đa dạng hóa được gọi là đa dạng hóa theo chiều ngang3. Ngược lại, đa dạng hóa theo chiều dọc 4 xảy ra khi xuất khẩu hàng hóa mới chưa từng xuất khẩu, hoặc xuất khẩu hàng hóa đã từng xuất khẩu nhưng đến thị trường mới, hoặc cả hai (Cadot et al. Besedeš and Prusa (2011) cung cấp một tranh luận đầy đủ hơn cho việc phân chia giữa hai dạng đa dạng hóa này.
Amurgo-Pacheco and Pierola (2008) nhận thấy rằng một phần lớn tăng trưởng xuất khẩu ở các nước đang phát triển được giải thích bởi đa dạng hóa theo chiều dọc, lên đến 37% đối với các nước châu Phi cận Sahara. Brenton and Newfarmer (2007) cũng tìm thấy kết quả tương tự, đa dạng hóa theo biên mở rộng chiếm 57% tăng 3 Horizontal diversification. 11 trưởng xuất khẩu ở các nước châu Phi và 35% ở các nước thu nhập thấp. Trong cả hai bài viết, một tỷ trọng lớn của đa dạng hóa theo chiều dọc được giải thích bằng cách xuất khẩu sang các thị trường mới (đa dạng hóa theo đối tác thương mại) dù có sự chênh lệch khá cao giữa các quốc gia.
Ngược lại, nghiên cứu gần đây hơn của Rondeau and Roudaut (2014) trên 64 nước đang phát triển lại tìm thấy tác động đến tăng trưởng kinh tế của việc xuất khẩu sản phẩm mới cao gấp đôi tác động của xuất khẩu sang thị trường mới. Trong trường hợp xuất khẩu sản phẩm mới chưa từng xuất khẩu (đa dạng hóa chiều dọc), hàng hóa này có thể thuộc về một ngành hàng đã từng có xuất khẩu, hoặc thuộc về một ngành hàng chưa từng được xuất khẩu. Tương ứng với cách hiểu này có thể chia đa dạng hóa xuất khẩu thành hai dạng: đa dạng hóa chủng loại (variety) sản phẩm trong cùng một ngành5 và đa dạng hóa giữa các ngành6 (Aditya et al. Sử dụng cách phân loại tương tự như trên nhưng với góc nhìn khác, Frenken et al.
(2007) định nghĩa sự đa dạng gần gũi và không gần gũi7. Sự đa dạng gần gũi đề cập đến mức độ đa dạng trong từng lĩnh vực, ngành hàng xuất khẩu. Ngược lại, sự đa dạng không gần gũi thể hiện mức độ đa dạng giữa các lĩnh vực/ngành chính trong nền kinh tế. Cách phân loại này có ý nghĩa kinh tế đặc biệt quan trọng.
Các sản phẩm trong cùng một ngành thường sử dụng những nguồn lực, kỹ năng. (gọi chung là năng lực sản xuất8) khá giống nhau, trong khi những năng lực cần thiết để sản xuất những sản phẩm ở các ngành khác nhau có thể sẽ rất khác nhau. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chiều hướng của đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu, theo nghĩa các nước có xu hướng xuất khẩu những sản phẩm mới ở trong cùng một ngành với các sản phẩm xuất khẩu hiện tại, thay vì xuất khẩu những sản phẩm mới hoàn toàn trong những ngành kinh tế khác. Tuy nhiên những nghiên cứu gần đây hơn chất vấn giả định ẩn ngầm nền tảng trong cách phân loại trên rằng các sản phẩm trong cùng một ngành sử dụng những năng lực sản xuất giống nhau.
Có hai vấn đề với giả định này. Vấn đề thứ nhất nằm ở chỗ sự phân ngành đôi khi chỉ để tổ chức dữ liệu một cách hiệu quả hơn thay vì phải 5 Diversification within sector. 6 Diversification across sectors. 7 Related và Unrelated diversity.
12 nhất thiết có sự phân định rạch ròi giữa các ngành. Vấn đề thứ hai nằm ở bản chất quá trình sản xuất và xuất khẩu ngày nay. Các nước hiện nay thường tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu trong đó mỗi khâu/công đoạn sản xuất được tiến hành ở một nước nhất định. Khâu lắp ráp cuối cùng trước khi xuất khẩu thành phẩm thường được tiến hành ở các nước đang phát triển nhằm tận dụng lao động giá rẻ (vì đây là khâu thâm dụng lao động).
Khi đó xuất khẩu ở những nước này sẽ được ghi nhận cho những mặt hàng có hàm lượng công nghệ rất cao (ví dụ: điện thoại thông minh) hoàn toàn đối lập với những sản phẩm thô (ví dụ: gạo) xuất khẩu khác, tức là xuất khẩu sản phẩm khác ngành. Song về thực chất, năng lực cần thiết để lắp ráp điện thoại thông minh và sản xuất gạo không có nhiều sự khác biệt. Vì vậy các nghiên cứu gần đây hơn không tập trung vào ngành hàng nữa và tìm kiếm những phương pháp thực nghiệm khác nhau để mô tả chính xác hơn bản chất của sự "gần gũi". Các học giả gần đây cải biến cách phân loại trên thành: đa dạng hóa vào những sản phẩm không gần gũi9 hay đa dạng hóa không bị ràng buộc10 theo cách gọi của Coniglio et al.
(2018); và ngược lại là đa dạng hóa vào những sản phẩm gần gũi11. Đa dạng hóa vào những sản phẩm không gần gũi là quá trình đa dạng hóa vào những sản phẩm (i) sử dụng năng lực sản xuất rất khác với so với năng lực sản xuất hiện tại của quốc gia, giống như từ sản xuất gạo sang sản xuất điện thoại thông minh (Neffke et al., 2018); hoặc (ii) kết hợp những năng lực sản xuất hiện tại của quốc gia theo cách chưa từng được kết hợp (Castaldi et al.