Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng (mã số: 9340201) của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Châu, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đào Lê Kiều Oanh và TS. Mai Thanh Loan tại Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, nghiên cứu về đề tài: “Tác động của đa dạng hóa thu nhập, chuyển đổi số đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam”. Công trình được hoàn thành vào tháng 06 năm 2026.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Ngành ngân hàng Việt Nam bước vào giai đoạn chuyển đổi mô hình tăng trưởng dưới áp lực bảo đảm an toàn hệ thống, gia tăng năng lực cạnh tranh và đáp ứng định hướng tại Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 986/QĐ-TTg) cùng Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng (Quyết định số 810/QĐ-NHNN). Quá trình hội nhập quốc tế thông qua các hiệp định CPTPP, EVFTA, RCEP làm gia tăng cạnh tranh từ các định chế tài chính nước ngoài như HSBC, Shinhan Bank, Woori Bank (FiinGroup, 2024).
Đặc thù hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam là phụ thuộc lớn vào nguồn thu tín dụng truyền thống, thu nhập lãi chiếm trên 70% tổng doanh thu hoạt động (Nguyễn Việt Hùng, 2008). Cơ cấu này làm suy giảm tính ổn định của ngân hàng trước các cú sốc vĩ mô, biến động lãi suất và rủi ro nợ xấu, nhất là khi biên lãi ròng (NIM) có xu hướng thu hẹp. Do đó, đa dạng hóa nguồn thu (Income diversification – DIV) và chuyển đổi số (Digital transformation – DTI) trở thành các định hướng chiến lược. Tuy nhiên, việc đầu tư công nghệ đòi hỏi nguồn vốn lớn, phát sinh chi phí vận hành và rủi ro điều chỉnh tổ chức trong ngắn hạn.
Từ bối cảnh học thuật, luận án xác định ba khoảng trống nghiên cứu chính:
- Các nghiên cứu hiện hữu chủ yếu xem xét DIV và DTI như những yếu tố độc lập, chưa phân tích một cách hệ thống vai trò tương tác giữa hai chiến lược trong cùng một khung phân tích.
- Hiệu quả hoạt động (HQHĐ) ngân hàng chủ yếu được đo lường qua các chỉ tiêu kế toán truyền thống ngắn hạn (ROA, ROE), chưa phản ánh đầy đủ khía cạnh ổn định lợi nhuận và rủi ro dài hạn.
- Việc đo lường DTI trong lĩnh vực ngân hàng còn thiếu thống nhất, chưa phân biệt rõ giữa quy mô đầu tư công nghệ đầu vào và mức độ triển khai thực chất trong hoạt động.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Phân tích và kiểm định tác động của DIV và DTI đến HQHĐ của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2009 - 2024 dưới góc độ truyền thống và điều chỉnh rủi ro; làm rõ vai trò của DTI trong mối quan hệ giữa DIV và HQHĐ, cung cấp bằng chứng thực nghiệm phục vụ việc hoàn thiện mô hình kinh doanh ngân hàng.
- Mục tiêu cụ thể:
- Thứ nhất, phân tích và đánh giá tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả hoạt động và hiệu quả hoạt động có điều chỉnh rủi ro của các NHTM Việt Nam.
- Thứ hai, phân tích tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả hoạt động và hiệu quả hoạt động có điều chỉnh rủi ro của các NHTM Việt Nam thông qua các cách tiếp cận đo lường khác nhau.
- Thứ ba, kiểm định vai trò của chuyển đổi số trong mối quan hệ giữa đa dạng hóa thu nhập và hiệu quả hoạt động ngân hàng nhằm làm rõ liệu chuyển đổi số tạo ra hiệu ứng hỗ trợ, làm suy yếu hay không tạo ra tác động đáng kể.
- Thứ tư, đề xuất các hàm ý quản trị và hàm ý chính sách nhằm hỗ trợ các NHTM Việt Nam nâng cao hiệu quả hoạt động thông qua việc kết hợp phù hợp giữa đa dạng hóa thu nhập và chuyển đổi số.
Câu hỏi nghiên cứu
- Đa dạng hóa thu nhập tác động như thế nào đến hiệu quả hoạt động và hiệu quả hoạt động có điều chỉnh rủi ro của các NHTM Việt Nam?
- Chuyển đổi số ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả hoạt động và hiệu quả hoạt động có điều chỉnh rủi ro của các NHTM Việt Nam?
- Chuyển đổi số có đóng vai trò điều tiết trong mối quan hệ giữa đa dạng hóa thu nhập và hiệu quả hoạt động ngân hàng hay không? Nếu có, vai trò này diễn ra theo hướng hỗ trợ, làm suy yếu hay không tạo ra tác động đáng kể đối với hiệu quả hoạt động ngân hàng?
- Từ các kết quả thực nghiệm, những hàm ý quản trị và chính sách nào cần được đề xuất nhằm giúp các NHTM Việt Nam tối ưu hóa chiến lược kết hợp giữa đa dạng hóa thu nhập và chuyển đổi số?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa đa dạng hóa thu nhập (DIV), chuyển đổi số (DTI) và hiệu quả hoạt động (HQHĐ) của các NHTM Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Phân tích tác động riêng lẻ và tương tác của DIV và DTI đến HQHĐ truyền thống (ROA, ROE) và HQHĐ điều chỉnh rủi ro (SDROA, SDROE), cùng các biến kiểm soát nội tại và kinh tế vĩ mô.
- Phạm vi không gian: 28 NHTM Việt Nam, bao gồm 4 NHTM có vốn nhà nước chi phối và 24 NHTM cổ phần. Sáu ngân hàng bị loại khỏi mẫu do thiếu dữ liệu hoặc hoạt động không ổn định gồm: GPBank, OceanBank, DongABank, PVcomBank, VietBank và CBBank.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2009 - 2024 (16 năm), bao quát thời kỳ tái cơ cấu ngân hàng sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, giai đoạn xử lý nợ xấu theo Quyết định 254/QĐ-TTg (2011 - 2015), giai đoạn đẩy mạnh ngân hàng số (2016 - 2019), giai đoạn biến động do dịch COVID-19 (2020 - 2021) và phục hồi (2022 - 2024).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước
Luận án điểm lại các dòng nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước xoay quanh ba nội dung:
-
Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả hoạt động:
- Nhóm nghiên cứu khẳng định tác động tích cực: Chiorazzo, Milani và Salvini (2008), Meslier, Tacneng và Tarazi (2014), Sanya và Wolfe (2011), Gürbüz, Yanik và Aytürk (2013) nhận định việc gia tăng nguồn thu ngoài lãi giúp phân tán rủi ro, ổn định lợi nhuận và cải thiện HQHĐ điều chỉnh rủi ro.
- Nhóm nghiên cứu ghi nhận tác động tiêu cực hoặc gia tăng rủi ro: DeYoung và Roland (2001), Stiroh (2004), Stiroh và Rumble (2006), Lepetit, Nys, Rous và Tarazi (2008) chỉ ra rằng thu nhập ngoài lãi có mức độ biến động cao, làm gia tăng rủi ro hoạt động và chi phí quản trị nếu ngân hàng thiếu năng lực tổ chức.
- Các nghiên cứu tại Việt Nam: Nguyễn Việt Hùng (2008), Nguyen Thi Canh, Vo Dinh Vinh và Nguyen Van Chien (2015), Lê Thanh Ngọc và Lê Thị Hương Giang (2022) phân tích cơ cấu thu nhập và xác nhận sự chuyển dịch từ thu nhập lãi sang dịch vụ phi tín dụng, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng đến sinh lời kế toán và rủi ro còn khác biệt tùy thời kỳ.
-
Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả hoạt động:
- Các công trình quốc tế: Gomber, Koch và Siering (2017), Vives (2019), Vial (2019), Brynjolfsson và McAfee (2014), Zareie, Attig, El Ghoul và Fooladi (2024) tiếp cận chuyển đổi số dưới góc độ tái cấu trúc mô hình kinh doanh, tự động hóa quy trình và mở rộng tệp khách hàng. Các kết quả thực nghiệm quốc tế cho thấy hiệu quả của chuyển đổi số phụ thuộc vào độ trễ công nghệ và năng lực hấp thụ của tổ chức.
- Các nghiên cứu tại Việt Nam: Đào Lê Kiều Oanh và Dương Quỳnh Nga (2023), Do Doan Trang, Pham Thi Ha An, Thalassinos và Le Hoang Anh (2022), Nguyen Chien Thang, Nguyen Thi Minh Hang và Le Mai Anh (2024) ghi nhận sự gia tăng của các kênh số hóa (Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, mã QR) và tác động tích cực đến doanh thu dịch vụ, dù áp lực chi phí đầu tư ban đầu tương đối lớn.
-
Tác động tương tác giữa đa dạng hóa thu nhập và chuyển đổi số:
- Một số ít nghiên cứu gợi mở rằng công nghệ số hỗ trợ triển khai các sản phẩm phi tín dụng (bancassurance, quản lý tài sản, ngân hàng mở), nhưng việc kết hợp thiếu đồng bộ có thể tạo ra chi phí tái cấu trúc tổ chức và xung đột vận hành.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án định vị nghiên cứu thông qua việc giải quyết đồng thời các vấn đề:
- Thiết lập khung phân tích tích hợp đánh giá vai trò điều tiết của DTI đối với mối quan hệ giữa DIV và HQHĐ ngân hàng trong cùng một mô hình ước lượng.
- Sử dụng các thước đo hiệu quả điều chỉnh rủi ro (SDROA, SDROE) bên cạnh các chỉ tiêu kế toán truyền thống (ROA, ROE).
- Xây dựng hệ thống đo lường DTI đa chiều, kết hợp giữa tỷ lệ chi phí đầu tư CNTT (ITER) với các chỉ số phản ánh mức độ thực chất thu thập qua phân tích văn bản báo cáo thường niên (DTIW, DTIP).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết nền tảng
- Lý thuyết năng lực động (Dynamic Capability Theory - DCT) (Teece, Pisano & Shuen, 1997; Teece, 2018): Đóng vai trò lý luận trung tâm, giải thích khả năng ngân hàng tích hợp, tái cấu trúc nguồn lực công nghệ và thích ứng với môi trường số nhằm tạo dựng lợi thế cạnh tranh.
- Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại (Modern Portfolio Theory - MPT) (Markowitz, 1952): Giải thích cơ chế phân tán rủi ro khi kết hợp các nguồn thu nhập có hệ số tương quan không hoàn hảo (thu nhập lãi và ngoài lãi).
- Lý thuyết đổi mới tổ chức (Organizational Innovation Theory - OIT) (Nambisan, Lyytinen, Majchrzak & Song, 2017; Vial, 2019): Khẳng định chuyển đổi số là quá trình thay đổi toàn diện về tổ chức, quy trình và quản trị, không đơn thuần là mua sắm thiết bị công nghệ.
- Lý thuyết vốn trí tuệ (Intellectual Capital Theory) (Bontis, 1998): Nhấn mạnh vai trò của nguồn nhân lực và tri thức tổ chức trong việc chuyển hóa đầu tư công nghệ thành hiệu quả kinh tế.
- Lý thuyết hiệu ứng cộng hưởng (Synergetic Effect Theory - SET): Cung cấp lập luận về sự bổ trợ chiến lược giữa việc phát triển sản phẩm dịch vụ mới và nền tảng số hóa.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Nghiên cứu áp dụng phương pháp định lượng trên tập dữ liệu bảng không cân bằng gồm 28 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2009 - 2024, với tổng số 448 quan sát. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tài chính hợp nhất đã kiểm toán, báo cáo thường niên, cơ sở dữ liệu FiinPro, Ngân hàng Nhà nước và Tổng cục Thống kê.
Phương pháp ước lượng chính là Mô men tổng quát dạng hệ thống (System GMM - SGMM) theo Blundell và Bond (1998), Arellano và Bover (1995). Phương pháp này giúp kiểm soát các vấn đề nội sinh phát sinh từ mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa hiệu quả hoạt động và các quyết định chiến lược (DIV, DTI), xử lý hiện tượng tự tương quan và các yếu tố không quan sát được mang tính đặc thù của ngân hàng. Ngoài ra, các mô hình OLS, Fixed Effects (FEM) và Random Effects (REM) được sử dụng nhằm mục đích đối chiếu.
Quy trình kiểm định mô hình bao gồm: kiểm định Breusch-Pagan LM, kiểm định Hausman, kiểm tra đa cộng tuyến (VIF), kiểm định phương sai thay đổi, kiểm định tự tương quan Wooldridge, kiểm định Arellano-Bond AR(1) và AR(2), cùng kiểm định Hansen/Sargan về tính hợp lệ của biến công cụ.
Bảng tổng hợp các biến trong mô hình nghiên cứu
| Loại biến |
Tên biến |
Ký hiệu |
Phương pháp đo lường |
| Phụ thuộc |
Lợi nhuận trên tổng tài sản |
ROA |
Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản bình quân |
|
Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu |
ROE |
Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu bình quân |
|
HQHĐ điều chỉnh rủi ro theo ROA |
SDROA |
Tỷ số giữa ROA và độ lệch chuẩn của ROA |
|
HQHĐ điều chỉnh rủi ro theo ROE |
SDROE |
Tỷ số giữa ROE và độ lệch chuẩn của ROE |
| Độc lập chính |
Đa dạng hóa thu nhập |
DIV |
$DIV = 1 - (INT^2 + NON^2)$; trong đó $INT = NET/NETOP$, $NON = NOI/NETOP$ |
|
Tỷ lệ chi phí đầu tư CNTT |
ITER |
Chi phí công nghệ thông tin / Tổng chi phí hoạt động |
|
Cường độ từ khóa chuyển đổi số |
DTIW |
Tần suất xuất hiện của các từ khóa chuyển đổi số trong Báo cáo thường niên |
|
Cường độ đoạn văn chuyển đổi số |
DTIP |
Số lượng đoạn văn có nội dung chuyển đổi số trong Báo cáo thường niên |
| Tương tác |
Tương tác DIV và CNTT |
DIV*ITER |
Tích số giữa DIV và ITER |
|
Tương tác DIV và Từ khóa DTI |
DIV*DTIW |
Tích số giữa DIV và DTIW |
|
Tương tác DIV và Đoạn văn DTI |
DIV*DTIP |
Tích số giữa DIV và DTIP |
| Kiểm soát |
Quy mô ngân hàng |
SIZE |
Logarit tự nhiên của tổng tài sản ($ln(Assets)$) |
|
Tỷ lệ vốn chủ sở hữu |
ETA |
Vốn chủ sở hữu / Tổng tài sản |
|
Tăng trưởng doanh thu thuần |
NRGR |
Tốc độ tăng trưởng của tổng thu nhập hoạt động thuần |
|
Dự phòng rủi ro tín dụng |
LLR |
Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng / Tổng dư nợ cho vay |
|
Hiệu quả sử dụng vốn con người |
HCE |
Giá trị gia tăng / Chi phí nhân viên |
|
Biến vĩ mô |
Macro |
Tăng trưởng GDP, lạm phát (CPI) |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương 1 thiết lập tổng thể nghiên cứu bằng việc nêu rõ bối cảnh kinh tế vĩ mô và sự chuyển dịch của hệ thống NHTM Việt Nam từ mô hình tập trung tín dụng truyền thống sang mô hình đa dịch vụ gắn với công nghệ số. Chương xác định 4 mục tiêu cụ thể, 4 câu hỏi nghiên cứu, phạm vi không gian gồm 28 ngân hàng và thời gian từ 2009 đến 2024. Nội dung chương đồng thời trình bày các luận điểm về tính cấp thiết thực tiễn dựa trên các nghị quyết, quyết định điều hành (Quyết định 986/QĐ-TTg, Quyết định 810/QĐ-NHNN), phác thảo phương pháp định lượng SGMM và giới thiệu bố cục năm chương của luận án.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu
Chương 2 hệ thống hóa cơ sở lý luận về thu nhập của NHTM với hai cấu phần chính: thu nhập lãi thuần (NET) và thu nhập thuần ngoài lãi (NOI). Chương trình bày chi tiết ba kỹ thuật đo lường đa dạng hóa thu nhập: chỉ số Herfindahl-Hirschman nghịch đảo ($DIV = 1 - HHI$), chỉ số Entropy ($E\text{-}Div$) và chỉ số đa dạng hóa điều chỉnh rủi ro ($R\text{-}Div$), qua đó chứng minh lý do lựa chọn $DIV = 1 - HHI$ làm biến đại diện chính.
Tiếp đó, chương phân tích khái niệm DTI trong ngân hàng và các cách tiếp cận đo lường qua tỷ lệ chi phí đầu tư CNTT (ITER) cũng như qua khai phá văn bản báo cáo thường niên (DTIW, DTIP). Về mặt lý thuyết, chương tích hợp Lý thuyết năng lực động (DCT), Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại (MPT), Lý thuyết đổi mới tổ chức (OIT), Lý thuyết hiệu ứng cộng hưởng (SET) và Lý thuyết vốn trí tuệ. Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước, chương chỉ ra các khoảng trống nghiên cứu và xây dựng khung giả thuyết:
- $H1$: Đa dạng hóa thu nhập có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam.
- $H2$: Chuyển đổi số có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam.
- $H3$: Chuyển đổi số có vai trò điều tiết tích cực (cộng hưởng) trong mối quan hệ giữa đa dạng hóa thu nhập và hiệu quả hoạt động ngân hàng.
Chương 3: Phương pháp và mô hình nghiên cứu
Chương 3 xây dựng quy trình nghiên cứu thực nghiệm gồm 3 mô hình hồi quy tổng quát:
- Mô hình 1: Đánh giá tác động trực tiếp của đa dạng hóa thu nhập ($DIV$) đến $HQHĐ$ ($ROA, ROE, SDROA, SDROE$).
- Mô hình 2: Đánh giá tác động trực tiếp của chuyển đổi số ($ITER, DTIW, DTIP$) đến $HQHĐ$.
- Mô hình 3: Đánh giá tác động kết hợp và vai trò điều tiết thông qua các biến tương tác ($DIV \times ITER, DIV \times DTIW, DIV \times DTIP$) đến $HQHĐ$.
Chương làm rõ các giả định kinh tế lượng, kiểm soát các biến nội tại ngân hàng ($SIZE, ETA, NRGR, LLR, HCE$) và biến vĩ mô. Đồng thời, chương trình bày chi tiết kỹ thuật hồi quy SGMM hai bước, phương thức thiết lập biến công cụ dạng trễ để khắc phục nội sinh, các tiêu chuẩn kiểm định tự tương quan Arellano-Bond ($AR(1), AR(2)$) và kiểm định tính hợp lệ của biến công cụ ngoại sinh (Hansen test, Sargan test), cùng quy trình kiểm tra độ bền của mô hình.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 công bố kết quả thống kê mô tả 448 quan sát, kết quả ma trận tương quan và kiểm định đa cộng tuyến (các hệ số VIF đều nằm trong ngưỡng an toàn). Kết quả ước lượng đối chiếu OLS, FEM, REM và phương pháp chính SGMM cho thấy:
- Đối với Mô hình 1: Biến $DIV$ tác động mang dấu dương và có ý nghĩa thống kê rõ rệt đối với các chỉ tiêu hiệu quả điều chỉnh rủi ro ($SDROA, SDROE$). Đối với các chỉ tiêu sinh lời kế toán ($ROA, ROE$), hệ số tác động dương nhưng mức độ ý nghĩa thống kê thấp hơn, thể hiện sự tồn tại của độ trễ thời gian trong việc chuyển hóa cơ cấu thu nhập thành lợi nhuận kế toán thuần túy.
- Đối với Mô hình 2: Tác động của chuyển đổi số không đồng nhất giữa các thước đo. Chỉ tiêu chi phí đầu tư CNTT ($ITER$) không có tác động rõ ràng hoặc mang dấu không ổn định đối với HQHĐ. Ngược lại, các chỉ số đo lường mức độ triển khai thực chất qua tần suất từ khóa ($DTIW$) và số lượng đoạn văn ($DTIP$) thể hiện tác động tích cực có ý nghĩa thống kê đối với $SDROA$ và $SDROE$.
- Đối với Mô hình 3: Hệ số của các biến tương tác ($DIV \times ITER, DIV \times DTIW, DIV \times DTIP$) trong phần lớn các phương trình không đạt mức ý nghĩa thống kê hoặc mang dấu âm. Phát hiện này bác bỏ giả định về sự xuất hiện của hiệu ứng cộng hưởng tích cực tức thời giữa đa dạng hóa thu nhập và chuyển đổi số trong giai đoạn nghiên cứu.
- Các kiểm định chẩn đoán sau hồi quy SGMM đều thỏa mãn: giá trị p-value của kiểm định $AR(1) < 0,05$, kiểm định $AR(2) > 0,10$ (không có tự tương quan bậc hai), và kiểm định Hansen có giá trị p-value nằm trong khoảng từ 0,10 đến 0,25 (biến công cụ hợp lệ, không xảy ra hiện tượng quá nhận dạng).
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Chương 5 đúc kết các phát hiện cốt lõi từ kết quả thực nghiệm và đối chiếu với mục tiêu nghiên cứu ban đầu. Từ đó, chương đề xuất các nhóm hàm ý quản trị đối với các NHTM và khuyến nghị chính sách đối với Ngân hàng Nhà nước. Nội dung chương cũng thẳng thắn chỉ ra các giới hạn của đề tài về dữ liệu, chỉ số và gợi ý hướng mở rộng cho các nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học
- Về khung phân tích lý thuyết: Luận án tích hợp thành công hai hướng nghiên cứu riêng biệt là đa dạng hóa thu nhập và chuyển đổi số trong một mô hình đánh giá hiệu quả ngân hàng dựa trên Lý thuyết năng lực động (DCT). Nghiên cứu làm rõ rằng hiệu quả ngân hàng trong giai đoạn tái cấu trúc không chỉ đến từ việc mở rộng dịch vụ hay tăng chi tiêu kỹ thuật số riêng lẻ, mà phụ thuộc vào năng lực tích hợp tổ chức để thích ứng với biến động thị trường.
- Về phương pháp và đo lường: Luận án đóng góp cách tiếp cận đa chiều khi đo lường hiệu quả hoạt động dưới cả góc độ kế toán ngắn hạn (ROA, ROE) và góc độ điều chỉnh rủi ro dài hạn (SDROA, SDROE). Đồng thời, luận án áp dụng kỹ thuật khai phá văn bản báo cáo thường niên để lượng hóa mức độ chuyển đổi số thực chất (DTIW, DTIP), tách biệt với thước đo chi phí đầu vào CNTT (ITER).
- Về bằng chứng thực nghiệm:
- Chứng minh chiến lược đa dạng hóa thu nhập có tác dụng phân tán rủi ro và tăng tính ổn định lợi nhuận ($SDROA, SDROE$) cho các NHTM Việt Nam thay vì chỉ tạo ra mức sinh lời kế toán tức thời.
- Chỉ ra việc gia tăng đơn thuần tỷ lệ chi tiêu CNTT ($ITER$) chưa bảo đảm nâng cao hiệu quả hoạt động; giá trị thực sự của DTI chỉ xuất hiện khi công nghệ được ứng dụng thực chất vào quy trình và chiến lược kinh doanh.
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho thấy chưa hình thành hiệu ứng cộng hưởng tích cực giữa DIV và DTI tại hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2009 - 2024, do phát sinh chi phí điều chỉnh tổ chức và sự thiếu đồng bộ giữa chiến lược kinh doanh và năng lực công nghệ.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với quản trị NHTM:
- Triển khai chiến lược đa dạng hóa thu nhập có trọng tâm, phát triển các dịch vụ phi tín dụng có giá trị gia tăng cao (thanh toán số, kinh doanh ngoại hối, quản lý tài sản, bảo hiểm liên kết) thay vì mở rộng dàn trải.
- Chuyển hướng đầu tư chuyển đổi số từ "quy mô ngân sách" sang "chất lượng triển khai thực chất"; tích hợp sâu hạ tầng CNTT vào quy trình nghiệp vụ và quản trị rủi ro.
- Xây dựng lộ trình tích hợp đồng bộ giữa chiến lược kinh doanh và chiến lược số hóa nhằm giảm thiểu xung đột vận hành và chi phí điều chỉnh tổ chức trong ngắn hạn.
- Chú trọng nâng cao chất lượng vốn con người ($HCE$), bồi dưỡng đội ngũ nhân sự có kỹ năng phân tích dữ liệu, am hiểu công nghệ tài chính để vận hành hiệu quả các mô hình số.
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước):
- Tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý về ngân hàng số, định danh điện tử (eKYC), an toàn dữ liệu và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) cho các dịch vụ tài chính mới.
- Nâng cấp và chuẩn hóa hạ tầng thanh toán quốc gia, tạo điều kiện chia sẻ thông tin tín dụng và thúc đẩy kết nối hệ sinh thái mở (Open Banking).
- Giám sát an toàn hệ thống gắn liền với việc kiểm soát rủi ro công nghệ và rủi ro hoạt động phát sinh từ các sản phẩm tài chính phi tín dụng phức tạp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
Căn cứ theo những nội dung được tác giả trình bày trong luận án:
- Phạm vi mẫu nghiên cứu: Do yêu cầu về tính liên tục và minh bạch của chuỗi dữ liệu trong 16 năm (2009 - 2024), mẫu nghiên cứu mới bao phủ 28 NHTM và phải loại trừ 6 ngân hàng (GPBank, OceanBank, DongABank, PVcomBank, VietBank, CBBank) do thiếu hụt dữ liệu hoặc có tình trạng hoạt động không ổn định trong giai đoạn khảo sát.
- Phương pháp đo lường chuyển đổi số: Mặc dù đã kết hợp giữa chi phí CNTT và phân tích văn bản báo cáo thường niên ($DTIW, DTIP$), việc lượng hóa chuyển đổi số qua tần suất từ khóa vẫn có thể chịu ảnh hưởng từ kỹ thuật truyền thông và mức độ công bố thông tin tự nguyện của từng ngân hàng, chưa đo lường trực tiếp toàn bộ các tài sản vô hình và văn hóa số hóa.
- Chỉ số đánh giá hiệu quả: Nghiên cứu chưa đưa chỉ tiêu biên lãi ròng (NIM) vào mô hình thực nghiệm để kiểm tra sâu hơn tác động của chuyển đổi số và đa dạng hóa đối với hiệu quả kinh doanh cốt lõi từ lãi của ngân hàng.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng mẫu nghiên cứu sang các định chế tài chính phi ngân hàng, công ty Fintech hoặc nhóm ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam khi hệ thống dữ liệu công bố được hoàn thiện.
- Sử dụng các chỉ số đo lường chuyển đổi số chuyên sâu hơn như Chỉ số trưởng thành số (Digital Maturity Index - DMI), Chỉ số sẵn sàng số hóa (Digital Readiness Index - DRI) hoặc chỉ số ngân hàng số (DBI).
- Bổ sung chỉ tiêu biên lãi ròng (NIM) và các chỉ số đo lường hiệu quả kỹ thuật thông qua các phương pháp phi tham số như Phân tích bao dữ liệu (DEA) hoặc Phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) để so sánh đa chiều.
Giá trị tham khảo
Luận án cung cấp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Tài chính - Ngân hàng: Tham khảo khung phân tích kết hợp giữa Lý thuyết năng lực động (DCT) và Lý thuyết danh mục đầu tư (MPT); tiếp cận quy trình ứng dụng mô hình kinh tế lượng bảng động SGMM xử lý nội sinh và phương pháp khai phá văn bản (text mining) trích xuất dữ liệu chuyển đổi số từ báo cáo thường niên. Phần đáng tham khảo nhất là Chương 3 (thiết kế mô hình kinh tế lượng và kỹ thuật đo lường biến) và Chương 4 (kết quả kiểm định thực nghiệm và các kiểm định chẩn đoán mô hình).
- Nhà quản trị tại các ngân hàng thương mại: Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc xây dựng kế hoạch phân bổ nguồn vốn đầu tư công nghệ, thiết kế lộ trình phát triển sản phẩm dịch vụ ngoài lãi, đánh giá tính ổn định của lợi nhuận điều chỉnh rủi ro ($SDROA, SDROE$) và tránh các bẫy đầu tư công nghệ hình thức không tạo ra hiệu quả thực tế.
- Cơ quan hoạch định chính sách (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam): Tham khảo các bằng chứng định lượng về hiện trạng phụ thuộc tín dụng, mức độ lan tỏa của chuyển đổi số để hoàn thiện chính sách giám sát an toàn vĩ mô, xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật số ngành ngân hàng giai đoạn đến năm 2030.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng những chỉ tiêu nào để đo lường mức độ chuyển đổi số (DTI) của các NHTM Việt Nam?
Luận án tiếp cận đo lường DTI theo hướng đa chiều thông qua 3 chỉ tiêu:
- Tỷ lệ chi phí đầu tư công nghệ thông tin ($ITER$): đo lường đầu vào của DTI, tính bằng chi phí CNTT trên tổng chi phí hoạt động.
- Cường độ từ khóa chuyển đổi số ($DTIW$): đo lường mức độ thực chất, tính bằng tần suất xuất hiện của các từ khóa liên quan đến chuyển đổi số trong báo cáo thường niên.
- Cường độ đoạn văn chuyển đổi số ($DTIP$): đo lường độ phủ nội dung, tính bằng số lượng đoạn văn chứa các từ khóa chuyển đổi số trích xuất từ báo cáo thường niên của ngân hàng.
2. Tại sao nghiên cứu sử dụng các chỉ tiêu SDROA và SDROE bên cạnh ROA và ROE truyền thống?
Các chỉ tiêu kế toán truyền thống như ROA và ROE phản ánh khả năng sinh lời trong ngắn hạn nhưng không đo lường được mức độ biến động và tính ổn định của lợi nhuận theo thời gian. Hoạt động đa dạng hóa thu nhập và chuyển đổi số thường đi kèm với việc thay đổi cấu trúc rủi ro. Do đó, luận án sử dụng các chỉ tiêu điều chỉnh rủi ro là $SDROA$ (tỷ số giữa ROA và độ lệch chuẩn của ROA) và $SDROE$ (tỷ số giữa ROE và độ lệch chuẩn của ROE) nhằm đánh giá chất lượng lợi nhuận, mức độ phân tán rủi ro và tính bền vững trong hoạt động của ngân hàng.
3. Kết quả thực nghiệm về tác động tương tác giữa đa dạng hóa thu nhập và chuyển đổi số (DIV * DTI) cho thấy điều gì?
Kết quả ước lượng SGMM trong Mô hình 3 cho thấy hệ số tương tác giữa $DIV$ và các biến đo lường $DTI$ phần lớn không có ý nghĩa thống kê hoặc mang dấu âm. Điều này chỉ ra rằng trong giai đoạn 2009 - 2024, việc triển khai đồng thời hai chiến lược này chưa tạo ra hiệu ứng cộng hưởng tích cực đối với hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam. Nguyên nhân là do các ngân hàng phải gánh chịu chi phí điều chỉnh tổ chức, rủi ro vận hành gia tăng trong ngắn hạn và thiếu sự liên kết đồng bộ giữa chiến lược kinh doanh dịch vụ với nền tảng công nghệ.
4. Những ngân hàng thương mại nào tại Việt Nam bị loại khỏi mẫu nghiên cứu và vì lý do gì?
Có 6 ngân hàng thương mại bị loại khỏi mẫu nghiên cứu gồm: GPBank, OceanBank, DongABank, PVcomBank, VietBank và CBBank. Lý do loại bỏ là các ngân hàng này thiếu dữ liệu công bố liên tục, không đầy đủ trong toàn bộ giai đoạn 2009 - 2024 hoặc có tình trạng hoạt động chưa ổn định (như các ngân hàng thuộc diện kiểm soát đặc biệt hoặc tái cơ cấu bắt buộc), việc loại trừ nhằm tránh sai lệch và bảo đảm tính vững của các ước lượng kinh tế lượng.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Châu đã phân tích và kiểm định thực nghiệm tác động của đa dạng hóa thu nhập và chuyển đổi số đến hiệu quả hoạt động của 28 NHTM Việt Nam giai đoạn 2009 - 2024 thông qua mô hình hồi quy động SGMM. Kết quả nghiên cứu chứng minh đa dạng hóa thu nhập và chuyển đổi số triển khai thực chất đóng vai trò tích cực trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động điều chỉnh rủi ro, trong khi việc gia tăng chi phí đầu tư CNTT đơn thuần chưa mang lại tác động rõ nét. Đáng chú ý, luận án xác định chưa tồn tại hiệu ứng cộng hưởng tích cực giữa đa dạng hóa thu nhập và chuyển đổi số, phản ánh áp lực chi phí điều chỉnh tổ chức và sự thiếu đồng bộ trong phối hợp chiến lược tại các ngân hàng. Các phát hiện này cung cấp cơ sở khoa học và bằng chứng thực nghiệm quan trọng hỗ trợ công tác quản trị NHTM và hoạch định chính sách điều hành ngành ngân hàng theo hướng an toàn, hiện đại và bền vững.