Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Khung lý thuyết về mối quan hệ giữa đa dạng hóa kinh doanh và giá trị của doanh nghiệp 2.1 Trường phái liên quan đến việc đa dạng hóa kinh doanh làm tăng giá trị của doanh nghiệp 2. Hiệu quả thị trường vốn nội bộ (internal capital markets) Đa dạng hóa kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp sử dụng thị trường vốn nội bộ hiệu quả hơn trong trường hợp doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc huy động nguồn tài trợ từ thị trường bên ngoài và để có thể giảm bớt được chi phí khi doanh nghiệp huy động vốn từ thị trường bên ngoài vì huy động được nguồn tài trợ từ bên ngoài doanh nghiệp sẽ phải tốn kém chi chí hơn.
Ngoài ra, khi doanh nghiệp gia tăng việc sử dụng nguồn vốn nội bộ của mình sẽ làm gia tăng sự giám sát của các cổ đông đến các hoạt động của doanh nghiệp, hay có thể nói một cách khác là sẽ thúc đẩy việc tương tác, hợp tác và hỗ trợ từ cổ đông của doanh nghiệp và nhà quản lý của doanh nghiệp đó. Chính điều này sẽ giúp làm tăng hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp và sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc điều chuyển sự hỗ trợ vốn từ những danh mục, bộ phận hoạt động không hiệu quả sang những danh mục và bộ phận có hoạt động hiệu quả hơn từ đó làm tăng giá trị của doanh nghiệp đa dạng hóa kinh doanh. Williamson (1970, 1975) cho rằng mục đích của doanh nghiệp khi tiến hành đa dạng hóa kinh doanh chính là để có thể tận dụng được các nguồn lực hiệu quả có sẵn từ chính doanh nghiệp và nguồn lực có sẵn điển hình nhất chính là thị trường vốn nội bộ của doanh nghiệp. Thị trường vốn nội bộ và thị trường vốn bên ngoài doanh nghiệp có sự khác nhau chủ yếu là khi sử dụng sự tài trợ ở hai thị trường này sẽ có sự khác nhau trong việc kiểm soát doanh nghiệp.
Thị trường vốn bên ngoài (ngân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 hàng, công ty tài chính,…) không có quyền sở hữu doanh nghiệp mà chỉ đóng vai trò là chủ nợ của doanh nghiệp và quyền quyền kiểm soát không bị pha loãng. Ngược lại, khi sử doanh nghiệp sử dụng sự tài trợ từ nguồn vốn nội bộ thì có quyền kiểm soát doanh nghiệp và có thể dẫn đến việc quyền kiểm soát bị pha loãng. Gertner (1994) đã chỉ ra có sự khác biệt chủ yếu giữa quyền kiểm soát của nhà tài trợ nội bộ của doanh nghiệp và nhà tài trợ bên ngoài doanh nghiệp. Có hai lợi ích và một bất lợi quan trọng khi sử dụng sự tài trợ của nguồn vốn nội bộ là: gia tăng việc giám sát, phân bổ lại nguồn lực hiệu quả hơn và làm giảm động lực kinh doanh của các chi nhánh.
Khác với cấu trúc hoạt động của ngân hàng, công ty mẹ của doanh nghiệp có những lý do nhất định để gia tăng sự giám sát các công ty con trực thuộc và nhà quản lý trực thuộc. Lý do được đem ra là khi doanh nghiệp thực hiện việc kiểm soát tốt hơn sẽ làm gia tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp từ đó làm tăng giá trị của doanh nghiệp. Ngược lại, việc gia tăng giám sát từ công ty mẹ sẽ làm giảm động lực cũng như ý chí kinh doanh của các nhà quản lý tại chi nhánh của doanh nghiệp. Lý do là vì khi công ty mẹ tăng sự kiểm soát thì các nhà quản lý sẽ không còn có nhiều quyền lực để kiểm soát chi nhánh như vậy họ sẽ không thể tạo ra các lỗ hổng để tạo ra lợi ích riêng cho bản thân mình.
Một lợi thế khác của việc tài trợ bằng vốn nội bộ chính là thúc đẩy sự tương tác giữa người quản lý chi nhánh và công ty mẹ, vì vậy sẽ giúp cho nhà quản lý đem ra các chiến lược, quyết định hiệu quả hơn phù hợp với tầm nhìn chung của doanh nghiệp từ đó giúp việc quản lý và phân bổ tài sản được thực hiện tốt hơn. Khi công ty mẹ nhận thấy rằng ngành hoạt động hay chi nhánh nào đó hoạt động không có hiệu quả hoặc có hiệu quả nhưng còn quá thấp, khi đó doanh nghiệp này có thể chuyền giao tài sản và nguồi lực của bộ phận này cho bộ phận nào đang hoạt động có hiệu quả cao. Điều này đã tạo ra những lợi thế của doanh nghiệp đa dạng hóa kinh doanh so với doanh nghiệp không đa dạng hóa kinh doanh vì khi doanh nghiệp đơn ngành hoạt động không hiệu quả thì không thể chuyển giao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 cho chi nhánh khác mà chỉ có thể thanh lý tài sản đó với giá không được như mong muốn. Stein (1997) đã đưa ra những dẫn chứng để chứng minh rằng đa dạng hóa kinh doanh sẽ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp.
Ông đã đưa ra một mô hình với công ty mẹ có quyền kiểm soát các tài sản và lợi nhuận đạt được từ các bộ phận dưới sự quản lý của mình. Như vậy, khi một bộ phận tạo ra được lợi nhuận cao hơn thì công ty mẹ sẽ sở hữu tỷ lệ lợi nhuận cao hơn so với việc chỉ sở hữu một ngành kinh doanh duy nhất. Khi sử dụng tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ, công ty mẹ sẽ là người có quyền kiểm soát cao nhất và sẽ có quyền luân chuyển và phân bổ nguồn lực vào bộ phận nào có hiệu quả hoạt động tốt hơn hoặc có thể tập trung tài sản cho một bộ phận để đi vay và phân bổ cho các bộ phận khác. Lợi thế từ đồng bảo hiểm nợ (Coinsurance) Doanh nghiệp đa dạng hóa kinh doanh sẽ có lợi thế hơn trong việc huy động nguồn tài trợ bên ngoài.
Nguyên nhân là doanh nghiệp đa dạng hóa kinh doanh sẽ làm giảm rủi ro hơn so với doanh nghiệp đơn ngành. Chính điều này làm cho người cho vay tự tin mạnh tay hơn trong việc cho các doanh nghiệp đa dạng hóa kinh doanh vay hơn so với doanh nghiệp đơn ngành. Lewellen (1971) đã kết luận rằng những công ty đa dạng hóa có khả năng huy động nợ nhiều hơn, vì việc đa dạng hóa đầu tư sẽ làm giảm rủi ro, giảm sự biến động doanh thu sẽ làm chủ nợ mạnh dạn hơn trong việc cho doanh nghiệp vay vốn hơn là so với doanh nghiệp đơn ngành. Khi chủ nợ cho một doanh nghiệp đa dạng hóa đầu tư đồng nghĩa với việc chủ nợ san sẻ rủi ro để tránh danh mục đầu tư của họ có thể cùng trở nên xấu đi cùng một lúc.
Mặt khác, đối với các doanh nghiệp đa dạng hóa thì khả năng trả nợ sẽ tăng lên do những bộ phận có kết quả kinh doanh tốt sẽ tài trợ cho những bộ phận có kết quả kinh doanh kém. Từ đó sẽ làm giảm nguy cơ vỡ nợ của doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Shleifer và Vishny (1992) đã chỉ ra rằng ngoài khả năng lưu chuyển tiền tệ mạnh hơn thì các doanh nghiệp đa dạng hóa còn có lợi thế khác đó chính là tính thanh khoản tài sản lớn hơn so với doanh nghiệp đơn ngành. Khi doanh nghiệp đa dạng hóa muốn thanh lý tài sản thì có thể bán tài sản cần thanh lý cho một công ty con thuộc tập đoàn đang hoạt động trong ngành khác.
Ngoài ra, doanh nghiệp đa dạng hóa còn có thể lựa chọn để thanh lý tài sản để giá trị thanh lý của tài sản không bị bán với mức giá thấp hơn với giá sổ sách. Bên cạnh đó, khi nền kinh tế gặp khủng hoảng thì doanh nghiệp có thể lựa chọn thanh lý tài sản cho một công ty khác thuộc tập đoàn nhưng đang hoạt động trong một ngành khác ít bị tác động bởi sự khủng hoảng kinh tế. Lợi thế kinh tế theo quy mô Doanh nghiệp đa dạng hóa kinh doanh có khả năng sử dụng nguồi lực của doanh nghiệp như: bí quyết kinh doanh, công nghệ sản xuất,… để sử dụng cho hoạt động của các ngành khác nhau mà doanh nghiệp có tham gia hoạt động. Ngoài ra, doanh nghiệp đa dạng hóa kinh doanh có lợi thế là giảm chi phí giao dịch trong việc có được sự phục vụ của các sản phẩm dịch vụ hỗ trợ hoạt động của mình.
Do tận dụng được các lợi thế đó nên doanh nghiệp đa dạng hóa kinh doanh có những lợi thế về quy mô và giá trị của doanh nghiệp sẽ cao hơn. Teece (1980) đã chỉ ra rằng doanh nghiệp đa dạng hóa kinh doanh sẽ đạt được những lợi thế theo quy mô từ tổ chức hoạt động của chính doanh nghiệp đó. Doanh nghiệp đa dạng hóa kinh doanh sẽ dễ dàng trong việc chuyển giao công nghệ hoặc bí mật kinh doanh của mình cho các ngành khác nhau. Đây chính là mấu chốt dẫn đến việc gia tăng giá trị của doanh nghiệp đa ngành có được từ lợi thế kinh tế từ quy mô.
Ngoài ra, một lợi thề kinh tế từ quy mô nữa mà ông đã đưa ra đó là một dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp có thể sản xuất nhiều sản phẩm cho nhiều ngành khác nhau. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Lợi thế từ sức mạnh thị trường Villalonga (2000), Scott (1982) đã chỉ ra rằng doanh nghiệp đa dạng hóa kinh doanh sẽ có lợi thế trong việc tận dụng lơi thế từ sức mạnh thị trường. Có nghĩa là doanh nghiệp đa dạng kinh doanh có khả năng sử dụng lợi nhuận hoạt động của bộ phận này để tài trợ cho những bộ phận khác của doanh nghiệp.
Ngoài ra, trong cùng một doanh nghiệp các ngành hoạt động khác nhau có thể sử dụng dịch vụ của nhau và khấu trừ nợ cho nhau. Hoặc có thể các doanh nghiệp đa ngành lớn của thị trường có thể cấu kết và hợp tác với nhau nhằm mục đích loại trừ các doanh nghiệp đơn ngành nhỏ và cùng ngành trên thị trường từ đó tạo ra được lợi thế độc quyền để nâng tầm ảnh hưởng của doanh nghiệp trên thị trường như là quyết định giá, ngăn chặn các doanh nghiệp khác gia nhập ngành. Một dẫn chứng được ông đem ra liên quan đến lợi thế từ sức mạnh thị trường đó là khi doanh nghiệp hoạt động trên nhiều ngành nghề khác nhau thì doanh nghiệp có thể làm tăng sự nhận biết thương hiệu trên thị trường và có thể thu hút được người tiêu dùng mua sản phẩm mà không tốn quá nhiều chi phí để tiếp thị và quảng cáo.