Chương 1 trình bày những nét sơ lược về nghiên cứu. Một vấn đề trung tâm trong các nghiên cứu về kinh tế học năng lượng đã được tranh luận trong những năm gần đây là tác động của các cú sốc giá dầu lên hoạt động kinh tế vĩ mô. Mặc dù có một số lượng đáng kể các bằng chứng trong quá khứ về mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và hoạt động kinh tế vĩ mô, tuy nhiên bản chất của các mối quan hệ hay thậm chí liệu rằng các mối quan hệ đó có tồn tại hay không vẫn chưa được xác định. Mục đích của bài nghiên cứu là để tìm tác động của các cú sốc trong độ bất ổn của giá dầu lên các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế Việt Nam và phản ứng của chính sách tiền tệ trước các cú sốc này.
Dữ liệu được phân tích bao gồm các biến kinh tế vĩ mô trong giai đoạn 2001 - 2015. Bài nghiên cứu sử dụng hai thước đo đại diện cho sự bất ổn trong giá dầu bao gồm biến động có điều kiện của giá dầu được ước lượng bằng mô EGARCH và thước đo gia tăng ròng trong giá dầu của Hamilton. Sau khi ước lượng hai thước đo đại diện cho sự bất ổn trong giá dầu, bài nghiên cứu sử dụng hàm phản đẩy của mô hình SVAR để xem xét tác động của các cú sốc trong độ bất ổn của giá dầu lên các biến vĩ mô của nền kinh tế cũng như xem xét phản ứng của chính sách tiền tệ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 CHƯƠNG 2 MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ DẦU VÀ NỀN KINH TẾ 2.1 Các nghiên cứu trước đây 2.1 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa giá dầu và nền kinh tế Tác động của cú sốc giá dầu đến các yếu tố kinh tế vĩ mô đã trở thành một trong những chủ đề được nghiên cứu nhiều nhất trong kinh tế học năng lượng từ giữa thập niên 70, sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng dầu thô năm 1973.
Những nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này bao gồm nghiên cứu của Rasche và Tattom (1977), Darby (1982) và Bruno và Sachs (1982), tất cả các nghiên cứu đều tìm thấy mối quan hệ nghịch biến giữa sự gia tăng trong giá dầu và tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu của Hamilton (1983) là nghiên cứu có tầm ảnh hưởng nhất trong lĩnh vực này. Sử dụng phương pháp VAR của Sim (1980) với số liệu của Mỹ thời kỳ 1948 – 1973, Hamilton (1983) kết luận rằng giá dầu và tăng trưởng GNP của Mỹ có mối quan hệ nghịch biến – có đến bảy trong tám cuộc suy thoái thời kỳ sau chiến tranh ở Mỹ xảy ra sau khi có sự gia tăng đáng kể trong giá dầu thô. Theo sau Hamilton, có rất nhiều bài nghiên cứu của các tác giả về tác động của giá dầu lên các biến số vĩ mô của Mỹ.
Bằng cách sử dụng phương pháp VAR với dữ liệu hàng tháng từ tháng 1 năm 1961 đến tháng 6 năm 1982, Burbidge và Harrison (1984) đã chứng minh được rằng tác động của giá dầu có ảnh hưởng ngược chiều lên các biến kinh tế vĩ mô ở các nước OECD (bao gồm Mỹ, Nhật Bản, Đức, Anh và Canada). Tuy nhiên, kết quả của họ cho thấy cú sốc giá dầu giai đoạn 1973 – 1974 thì khác biệt đáng kể so với với giai đoạn 1979 – 1980. Trong giai đoạn 1979 – 1980 ảnh hưởng của biến động giá dầu lên giá cả và sản lượng là rất nhỏ đối với các nước ngoại trừ Nhật Bản, trái lại trong giai đoạn 1973 – 1974 ảnh hưởng của giá dầu lên các biến kinh tế vĩ mô là khá lớn. Sử dụng dữ liệu của Hamilton, Gisser và Goodwin (1986) tìm ra mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và việc làm, đồng thời kiểm định liệu có sự khác nhau trong tác LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 động của giá dầu trước và sau năm 1973 hay không.
Tuy nhiên, họ không tìm được cơ sở củng cố cho giả thiết này và kết quả của họ cũng tương tự với Hamilton (1983). Lippi và Nobili (2010) nghiên cứu những cú sốc cấu trúc (giá dầu, chỉ số sản lượng công nghiệp và các biến kinh tế vĩ mô khác) trên số liệu của Mỹ. Sử dụng mô hình SVAR cho dữ liệu giai đoạn 1973 – 2007 ở Mỹ, hai ông cho thấy cú sốc về mặt cung của dầu làm giảm sản lượng của các ngành công nghiệp trong khi cú sốc về mặt cầu có tác động đồng biến lên GDP. Du và cộng sự (2010) tìm hiểu mối quan hệ giữa giá dầu thế giới và hoạt động kinh tế vĩ mô Trung Quốc dựa trên số liệu từ giai đoạn tháng 1 năm 1995 đến tháng 12 năm 2008, sử dụng mô hình vectơ tự hồi quy VAR.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy giá dầu thế giới tác động đáng kể lên hoạt động kinh tế của Trung Quốc. Sử dụng dữ liệu các biến kinh tế vĩ mô giai đoạn 2002 – 2010, Nguyễn Thị Liên Hoa và Trần Thu Giang (2012) đã kiểm định tác động của giá dầu đến nền kinh tế Việt Nam. Để kiểm định mối quan hệ giữa giá dầu và giá trị sản lượng công nghiệp, tác giả sử dụng phương pháp đồng liên kết để xem xét mối quan hệ trong dài hạn và mô hình hiệu chỉnh sai số (Error Correction Model –ECM) để xem xét mối quan hệ trong ngắn hạn. Kết quả cho thấy giá dầu và giá trị sản lượng công nghiệp của Việt Nam có tương quan đồng biến trong dài hạn, còn trong ngắn hạn biến động của giá dầu trong hai tháng trước sẽ có tác động nghịch biến đến biến động của giá trị sản lượng công nghiệp hiện tại.
Ran và Voon (2012), sử dụng dữ liệu từ quý I năm 1984 đến quý III năm 2007 cho Hồng Kông, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan, kết quả nghiên cứu thấy rằng giá dầu không có tác động đến hoạt động kinh tế thực của các quốc gia nghiên cứu. Tuy nhiên, các tác giả phát hiện giá dầu tác động tích cực đối với tỷ lệ thất nghiệp và CPI. Jimenez-Rodriguez và Sanchez (2012) cho thấy rằng các cú sốc giá dầu tạo ra sự sụt giảm trong sản xuất công nghiệp tại Nhật Bản trong giai đoạn từ quý I năm 1976 đến quý II năm 2008, trong khi cú sốc giá dầu làm tăng tỷ lệ lạm phát. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Lê và Chang (2013) tập trung vào vai trò của các cú sốc giá dầu trong cán cân thương mại.
Hai tác giả sử dụng dữ liệu hàng tháng từ tháng 1 năm 1999 đến tháng 11 năm 2011 cho ba nền kinh tế Đông Á (Malaysia, Singapore và Nhật Bản), và thấy rằng cú sốc giá dầu gây ra những cải thiện trong cán cân thương mại ở Malaysia, nhưng không tác động đến cán cân thương mại tại Singapore, kết quả cũng cho thấy rằng tác động của các cú sốc giá dầu có thể khác nhau tùy theo mức độ phụ thuộc dầu mỏ của một quốc gia. Cunado và cộng sự (2015) nghiên cứu về tác động của cú sốc dầu đến nền kinh tế của bốn nước châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ , Indonesia), các tác giả sử dụng số liệu từ quý II năm 1997 đến quý III năm 2014 và tìm ra rằng sự tăng giá dầu bất ngờ với cùng độ lớn trên nguồn gốc của một cú sốc có thể mang lại các kết quả riêng biệt đối với hoạt động kinh tế và CPI.2 Nghiên cứu ảnh hưởng bất đối xứng của giá dầu Mork (1989) đã cập nhật dữ liệu nghiên cứu đến năm 1988 để kiểm tra tính bền vững kết quả nghiên cứu của Hamilton do ông nhận thấy rằng những nghiên cứu trước đây chỉ thực hiện trong thời kỳ giá dầu tăng. Phương pháp được ông sử dụng giống như nghiên cứu của Hamilton (1983). Kết quả nghiên cứu của Mork cho thấy rằng kết luận của Hamilton là không phù hợp với dữ liệu sau năm 1986 bởi vì Hamilton giả định rằng sự tăng (giảm) giá dầu dẫn đến giảm (tăng) tăng trưởng GDP trong tương lai.
Tuy nhiên kết quả từ nghiên cứu của Mork cho thấy rằng tác động này có thể là không đối xứng, trong đó giá dầu giảm có thể dẫn đến tăng trưởng GDP trong tương lai thấp hơn so với việc giá dầu tăng làm chậm tăng trưởng GDP. Mở rộng kết quả của Hamilton và kết hợp với những khám phá của Mork và Olsen (1994) về ảnh hưởng bất đối xứng tại các nước G10, châu Âu và châu Á. Lardic và Mignon (2006), Cunado và Gracia (2005) đã nghiên cứu mối tương quan giữa thay đổi giá dầu và tăng trưởng GDP trên bảy nước thuộc khối OECD bao gồm Mỹ, Canada, Nhật Bản, Đức (West), Pháp, Vương quốc Anh, và Na Uy. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Mối tương quan hai chiều giữa thay đổi giá dầu và tăng trưởng GDP đã được thực hiện cho mỗi quốc gia tương tự như kiểm định nhân quả Granger của Hamilton, trong đó đưa ra phương trình hồi quy của biến tăng trưởng GDP với độ trễ của tăng trưởng GDP và biến thay đổi giá dầu.
Tương tự như Mork đã thực hiện, giá dầu thực tăng và giảm sẽ được đưa vào như là các biến riêng biệt để kiểm tra sự bất đối xứng cho mỗi quốc gia. Kết quả phân tích hai chiều cho thấy mối tương quan ngược chiều giữa tăng trưởng GDP và tăng giá dầu. Na Uy là quốc gia duy nhất cho thấy một mối tương quan cùng chiều đáng kể giữa tăng trưởng GDP và tăng giá dầu, không có gì là ngạc nhiên bởi Na Uy là nước có ngành công nghiệp dầu mạnh và là một trong các quốc gia dẫn đầu về xuất khẩu dầu mỏ trên thế giới. Trong khi đó, mối tương quan giữa giá dầu giảm và tăng trưởng GDP là ngược chiều, như vậy giá dầu giảm có liên quan với sự sụt giảm tiếp theo trong sự phát triển chung tại các nước OECD này.
Sự khác biệt chung giữa các hệ số ước tính cho giá dầu tăng và giảm là những gợi ý cho hiệu ứng bất đối xứng. Trong nghiên cứu về mối quan hệ trong dài hạn giữa giá dầu và hoạt động kinh tế trong các nước G7, châu Âu và khu vực châu Âu, Lardic và Mignon (2006) thấy rằng giá dầu tăng làm chậm lại hoạt động của nền kinh tế hơn so với giá dầu giảm làm kích thích nền kinh tế. Các tác giả này thấy rằng các dữ liệu chuỗi thời gian của họ đưa ra đều không dừng, dẫn đến việc bác bỏ mối quan hệ đồng tích hợp thông thường.