Lời mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài 1. Mục đích nghiên cứu 1. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 1.
Phương pháp nghiên cứu 1. Kết cấu đề tài Chương II: Tổng quan nghiên cứu 2. Tổng quan về thị trường chứng khoán 3 2. Tổng quan về cổ phiếu 2.
Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam 2. Tổng quan về cổ phiếu ngân hàng trên TTCK Việt Nam 2. Vấn đề công bố thông tin và sự ảnh hưởng đến giá cổ phiếu 2. Một số nghiên cứu trước về đề tài Chương III: Số liệu và phương pháp nghiên cứu 3.
Mẫu nghiên cứu 3. Phương pháp Chương IV: Kết quả nghiên cứu Chương V: Kết luận và khuyến nghị 4 Chương II: Tổng quan nghiên cứu 2. Tổng quan về thị trường chứng khoán 2. Quá trình hình thành và phát triển thị trường chứng khoán Trước khi đề cập đến quá trình hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán, chúng ta hãy cùng nhìn lại thị trường tài chính trước tiên.
Khi nền kinh tế phát triển, người dân sẽ nảy sinh nhu cầu tích trữ vốn, sử dụng vốn nhàn rỗi để kiếm lời, đồng thời lại luôn có những người có nhu cầu vay vốn, có thể phục vụ mục đích đầu tư hoặc đơn giản là tiêu dùng cá nhân. Việc tồn tại song song đồng thời của cả cung và cầu đủ lớn trong xã hội đã dẫn đến một hệ quả tất yếu - đó chính là sự hình thành thị trường tài chính. Dựa vào nguồn gốc trên, ta có thể hiểu thị trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán quyền sử dụng các nguồn tài chính. Thông qua thị trường tài chính, nhiều khoản vốn nhàn rỗi được huy động vào tiêu dùng, đầu tư, tạo đòn bẩy cho phát triển kinh tế.
Căn cứ vào thời gian luân chuyển vốn, thị trường tài chính bao gồm: - Thị trường tiền tệ: mua bán, trao đổi các công cụ tài chính ngắn hạn dưới một năm. - Thị trường vốn: mua bán, trao đổi các công cụ tài chính trung và dài hạn. Ban đầu, nhu cầu về vốn cũng như đầu tư và tiết kiệm trong dân cư còn thấp và nhu cầu chủ yếu về vốn là ngắn hạn nên thị trường tiền tệ được hình thành trước Về sau, nhu cầu vốn dài hạn ngày càng cao, thị trường vốn đã ra đời để đáp ứng nhu cầu huy động vốn dài hạn. Bên cạnh việc đi vay ngân hàng, Chính phủ và doanh nghiệp còn có thể huy động vốn thông qua phát hành chứng khoán.
Khi các chứng khoán có giá nhất định được phát hành thì nhu cầu về mua bán, trao đổi tất yếu sẽ nảy ninh. Thị trường chứng khoán được xem là đặc trưng cơ bản và là biểu tượng của nền kinh tế hiện đại. Người ta có thể đo lường và dự tính sự phát triển kinh tế qua diễn biến trên thị trường chứng khoán. Đến nay, hầu hết các nước có nền kinh tế phát triển đều đã có thị trường chứng khoán.
Khái niệm TTCK Hiện nay, thị trường chứng khoán vẫn là 1 khái niệm tồn tại nhiều tranh cãi và quan điểm khác nhau. Cụ thể: - Có quan điểm cho rằng thị trường vốn và thị trường chứng khoán là một, chỉ là tên gọi khác nhau của cùng một khái niệm: Thị trường tư bản (Capital Market). Quan điểm trên đồng nhất thị trường chứng khoán và thị trường vốn dựa trên cơ sở thời hạn cung cấp vốn cho doanh nghiệp của cả 2 khái niệm thị trường này đều là trung và dài hạn. - Nhiều nhà nghiên cứu và phân tích kinh tế lại đưa ra một ý kiến khác, cho rằng: "Thị trường chứng khoán được đặc trưng bởi thị trường vốn chứ không phải đồng nhất là một".
Khác với ý kiến ở trên, quan điểm này đã chỉ ra một cách rõ ràng rằng thị trường vốn là nơi giao dịch các công cụ tài chính cả ngắn hạn và dài hạn, trong khi đó thị trường chứng khoán không diễn ra các các giao dịch, mua bán với công cụ tài chính ngắn hạn (có thời gian đáo hạn dưới 12 tháng) mà chỉ áp dụng với các công cụ tài chính trung và dài hạn như trái phiếu chính phủ, cổ phiếu và trái phiếu công ty. - Với quan điểm thứ ba, nhiều người lại cho rằng "Thị trường chứng khoán là thị trường cổ phiếu". Tuy còn rất nhiều công cụ tài chính khác được giao dịch trong thị trường chứng khoán như trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, các khoản tín dụng thương mại… nhưng cổ phiếu vẫn luôn có khối lượng giao dịch lớn nhất, có tầm ảnh hưởng nhất và cũng chịu nhiều ảnh hưởng nhất, đồng thời cũng thu hút các nhà đầu tư nhiều nhất mặc dù tiềm ẩn nhiều rủi ro. Chính vì vậy, thị trường chứng khoán đôi khi được nhìn bằng 1 góc nhìn hẹp là thị trường cổ phiếu, hay là nơi mua bán các phiếu cổ phần được các công ty phát hành ra để huy động vốn.
Nguyên tắc hoạt động và vai trò của thị trường chứng khoán a, Nguyên tắc hoạt động Việc mua bán chứng khoán được quy định dựa trên các nguyên tắc cơ bản quan trọng nhất là: - Nguyên tắc công khai: Thông tin trên thị trường chứng khoán phải đảm bảo được công khai một cách chính xác, minh bạch, kịp thời và dễ dàng tiếp cận để tạo 6 điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư khi đưa ra quyết định. Các thông tin chủ yếu được quan tâm là: tình hình hoạt động của công ty phát hành chứng khoán; giá mở cửa, đóng cửa, cao nhất, thấp nhất trong ngày của chứng khoán, khối lượng chứng khoán được giao dịch trong ngày… - Nguyên tắc trung gian mua bán: Các nhà đầu tư không thể tự giao dịch với nhau mà phải thông qua các nhà môi giới, các công ty chứng khoán được quyền hoạt động trên Sở giao dịch chứng khoán để đảm bảo độ tin cậy cao của thị trường, tránh sự giả mạo, lừa đảo. Đối với thị trường sơ cấp, các nhà đầu tư sẽ không mua trực tiếp từ nhà phát hành chứng khoán mà sẽ mua qua nhà bao lãnh phát hành chứng khoán. Còn đối với thị trường thứ cấp, các nhà đầu tư sẽ thông qua các nhà môi giới để đặt lệnh mua hoặc bán.
Sau khi được nhập vào hệ thống, lệnh sẽ được khớp - Nguyên tắc tập trung: Có nghĩa là tập trung tất cả mọi đơn đặt hàng, đơn chào bán vào Sở giao dịch chứng khoán để đảm bảo việc hình thành giá cả trung thực, hợp lý. - Nguyên tắc đấu giá: Vì lý do bên mua và bên bán không trực tiếp giao dịch hay thỏa thuận với nhau về giá mà phải thông qua bên trung gian thứ 3 nên giá chứng khoán sẽ được xác định bằng cách đấu giá các lệnh mua và lệnh bán. Các hình thức đấu giá hiện nay là: đấu giá trực tiếp, đấu giá gián tiếp, đấu giá tự động, đấu giá định lỳ và đấu giá liên tục b, Vai trò của thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán là có vai trò rất quan trọng và đến nay đã là một phần không thể thiếu của 1 nền kinh tế hiện đại và phát triển, bởi nó ảnh hưởng đến cả nhà đầu tư, Chính phủ và bản thân người phát hành chứng khoán - Đối với nhà phát hành: • Giúp doanh nhiệp và chính phủ tạo ra một kênh huy động vốn mới. Bên cạnh việc vay vốn ngân hàng với những yêu cầu khắt khe về tài sản bảo đảm và giới hạn về số lượng vốn có thể huy động, phát hành chứng khoán là một lựa chọn không thể bỏ qua bởi chi phí vốn hợp lý và không giới hạn số lượng vốn có thể huy động được, tùy thuộc vào mục đích sử dụng và tính khả thi của việc nguồn vốn.
• Thúc đẩy quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp. Lúc này trách nhiệm của các thành viên trong doanh nghiệp sẽ được liên kết chặt chẽ với lợi ích của doanh 7 nghiệp, và đây chính là 1 trong những động cơ mạnh mẽ nhất thúc đẩy doanh nghiệp phát triển • Thị trường chứng khoán là công cụ đánh giá vô cùng chính xác giá trị doanh nghiệp và tình hình của nền kinh tế. Doanh nghiệp làm ăn tốt sẽ tạo được niềm tin và thu hút nhà đầu tư, từ đó giá trị của cổ phiếu mà doanh nghiệp đó phát hành sẽ tăng lên để phản ánh đúng giá trị của doanh nghiệp đó. Như vậy, những cổ phiếu có giá trị cao đại diện cho những doanh nghiệp làm ăn tốt và có độ tin cậy cao.
Từ đó tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm. • Hiệu quả của quốc tế hóa thị trường chứng khoán: Việc mở cửa thị trường chứng khoán làm tăng tính lỏng và cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Điều này cho phép các doanh nghiệp có thể huy động nguồn vốn rẻ hơn, tăng khả năng cạnh tranh quốc tế đồng thời mở rộng cơ hội kinh doanh của các công ty trong nước. • Thị trường chứng khoán tạo điều kiện thuận lợi cho việc tách bạch giữa sở hữu và quản lý doanh nghiệp.
Khi quy mô doanh nghiệp tăng lên, môi trường kinh doanh trở nên phức tạp hơn, nhu cầu về quản lý chuyên trách cũng tăng theo. - Đối với nhà đầu tư • Các nhà đầu tư có thể phân tích và sàng lọc một danh mục đầu tư hấp dẫn và đầu tư vốn theo danh mục đó. Đây chính là thực hiện theo nguyên lý của đa dạng hóa đầu tư: “không nên bỏ tất cả số trứng vào một giỏ”. Điều này sẽ làm giảm rủi ro cho các nhà đầu tư.
• Hình thành thói quen phân tích, tạo nên văn hóa đầu tư. • TTCK cung cấp môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội đầu tư phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn, khả năng đưa lại lợi tức và mức độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại chứng khoán phù hợp với khả năng, sở thích và mục đích của mình. Chính vì vậy, TTCK có tác dụng quan trọng trong việc khuyến khích tiết kiệm để đầu tư.
- Đối với Chính phủ và nền kinh tế 8 • TTCK tạo cơ hội cho Chính phủ huy động các nguồn lực tài chính và tạo ra các công cụ cho việc thực hiện chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ. Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát.