Chương 1: Cơ sở l thuyết Chương 2: Mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Hàm chính sách và kết luận 10 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Cơ sở lý thuyết về công bố thông tin kế toán 1. Khái niệm về công bố thông tin kế toán Theo Sổ tay công bố thông tin dành cho công ty niêm yết của HNX thì Công bố thông tin được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng. Theo Nguyễn Thị Bích Thủy (2017): Công bố thông tin là một quá trình truyền tải thông tin từ công ty tới các chủ thể bên ngoài có mối quan tâm đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Các chủ thể tiếp nhận thông tin bao gồm các cơ quan quản l nhà nước, các đối tác kinh doanh như các nhà cung cấp, các tổ chức tài chính liên quan, các nhà đầu tư, các nhà phân tích tài chính chuyên nghiệp, các chuyên gia tư vấn và công nhân viên của công ty. Như vậy hành vi công bố thông tin, đặc biệt của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, có ảnh hưởng rất lớn trong nền kinh tế. Có nhiều cách tiếp cận với thông tin được công bố của các doanh nghiệp, như qua Website của các doanh nghiệp, báo chí, các phương tiện thông tin công cộng, Nguồn thông tin mà các nhà đầu tư, các bên thứ ba, các cơ quan quản l có thể sử dụng bao gồm một hệ thống đa dạng các báo cáo hàng năm, báo cáo giữa năm, báo cáo bất thường của các doanh nghiệp Công bố thông tin kế toán là toàn bộ thông tin được cung cấp thông qua hệ thống các báo cáo tài chính của một doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Công bố thông tin kế toán bao gồm công bố bắt buộc và công bố tự nguyện: Công bố bắt buộc là những công bố kế toán được yêu cầu bởi luật pháp và những quy định của một quốc gia hoặc một v ng lãnh thổ.
Những công bố 11 này phải được trình bày theo những quy định của cơ quan quản l như: Ủy ban Chứng khoán, các cơ quan quản l về kế toán cũng như theo các nguyên tắc kế toán chấp nhận chung và các chuẩn mực kế toán khác. Công bố thông tin bắt buộc đề cập đến những khía cạnh và thông tin phải được công bố như là kết quả của sự tồn tại của một số quy định pháp luật, thị trường vốn, thị trường chứng khoán hoặc quy định của cơ quan quản l. Mục đích của việc công bố này là nhằm thoả mãn nhu cầu về thông tin của các bên liên quan, đảm bảo kiểm soát chất lượng sản xuất thông qua việc tuân thủ các quy định của pháp luật và tiêu chuẩn (Adina và Ion, 2008), đồng thời giúp bảo vệ an toàn và lợi ích của các nhà đầu tư. Công bố tự nguyện là những thông tin mà công ty niêm yết tự nguyện công bố để nhà đầu tư có thể hiểu r hơn về tình hình hoạt động của công ty mà những thông tin này không bắt buộc phải công bố theo quy định.
Công bố tự nguyện là thỏa mãn nhu cầu nắm bắt thông tin của người sử dụng. Đo lường công bố thông tin kế toán Theo Đào Thị Nhung (2020), xác định quan điểm đo lường chất lượng thông tin kế toán được công bố của các công ty niêm yết theo quan điểm hòa hợp giữa IASB (International Accounting Standards Board – Hội đồng kế toán chuẩn mực quốc tế) và FASB (Financial Accounting Standards Board - Ủy ban chuẩn mực kế toán tài chính) là quan điểm ph hợp để đánh giá đo lường chất lượng thông tin kế toán cho các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam nói riêng, vì kế toán là lĩnh vực chịu sự chi phối cao về các chuẩn mực, nguyên tắc được ban hành bởi các cơ quan nhà nước và các tổ chức nghề nghiệp, vì vậy các đặc tính về thị trường kinh tế theo quan điểm hội tụ của IASB FASB được công bố bởi IASB vào năm 2010 được phần lớn các tổ chức nhà nước và các 12 tổ chức nghề nghiệp trong lĩnh vực kế toán chấp thuận và tham chiếu khi đề ra khuôn mẫu khái niệm về chất lượng. Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính. Tuy nhiên, tác giả nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các ngân hàng thương mại được niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam.
Để phục vụ cho việc đo lường đánh giá về mức độ công bố thông tin góp phần làm giảm thiểu sự bất đồng thông tin giữa người sử dụng báo cáo tài chính và doanh nghiệp. Thông thường có ba cách được tác giả của các nghiên cứu trước áp dụng để tiếp cận đo lường công bố thông tin kế toán. Đo lường không trọng số Dựa vào các chuẩn mực kế toán có sẵn, các thông tin được thể hiện trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp sẽ được gán giá trị 1, ngược lại sẽ được gán giá trị 0. Nếu thông tin không phát sinh sẽ không được gán giá trị.
Do đó, mỗi chỉ mục thông tin được theo d i có công bố hay không. Đo lường có trọng số Phương pháp đo lường có trọng số yêu cầu các thông tin được chọn lọc c ng với việc đánh giá tầm quan trọng của mỗi chỉ mjc là thấp hay sao. Từ đó, phản ánh mức độ quan trọng của từng chỉ mục thông tin được xây dựng với hệ thống chỉ mục thông tin trong thang chuẩn. Phương pháp này được thực hiện giống với phương pháp đo lường không trọng số, tuy nhiên, các chỉ mục thông tin sau khi được gán giá trị được nhân với trọng số đã xây dựng.
Đo lường hỗn hợp Đo lường hỗn hợp được kết hợp giữa phương pháp đo lường có trọng số và phương pháp đo lường không trọng số. Theo nghiên cứu của nhóm tác giả Francisco, Maria và Marco (2009): Disclosure indices design: does it make e 13 difference?, nhận thấy không có sự thống nhất về thiết kế đo lường tốt nhất cho các chỉ số. Nghiên cứu đã so sánh ba chỉ số công bố thông tin: Chỉ số chất lượng, chỉ số phạm vi và chỉ số số lượng. Kết quả nghiên cứu cho thấy các chỉ số mặc d có sự tương quan với nhau nhưng lại tác động lớn đến các thứ hạng của các doanh nghiệp.
D vậy, hạn chế lớn nhất khi sử dụng phương pháp đo lường có trọng số và phương pháp đo lường hỗn hợp là dựa trên các quan điểm khác nhau của mỗi cá nhân tác giả khi đánh giá tầm quan trọng của mỗi khoản mục thông tin làm cho kết quả nghiên cứu mang tính chủ quan dẫn đến kết quả khác biệt. Để hạn chế, tác giả tập trung đánh giá mức độ công bố thông tin bắt buộc và các chỉ số công bố thông tin tự nguyện trong báo cáo tài chính bằng phương pháp đo lường không trọng số. Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin kế toán của ngân hàng niêm yết 1. Nhóm nhân tố bên ngoài ngân hàng ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin kế toán của ngân hàng niêm yết Nhóm nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin kế toán của ngân hàng niêm yết bao gồm: i.
Nhân tố pháp lý: Nhân tố pháp l ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin kế toán là một trong những yếu tố quan trọng được nghiên cứu trong lĩnh vực kế toán. Nhân tố pháp l bao gồm các quy định, tiêu chuẩn, quy trình và thủ tục liên quan đến việc công bố thông tin kế toán của các ngân hàng. Nhân tố pháp l có thể ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin kế toán bằng cách tạo ra những kỳ vọng, yêu cầu, áp lực và hạn chế cho các ngân hàng trong việc cung cấp thông tin kế toán cho các bên liên quan. Cụ thể: 14 - Luật Kế toán và các văn bản hướng dẫn thi hành luật, quy định về các nguyên tắc, phương pháp và nội dung kế toán, báo cáo tài chính và công bố thông tin kế toán của các ngân hàng.
- Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn thi hành luật, quy định về các điều kiện, trách nhiệm và quyền lợi của các ngân hàng niêm yết và các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, cũng như các yêu cầu về công bố thông tin kế toán của các doanh nghiệp niêm yết. - Các tiêu chuẩn kế toán trong nước và các tiêu chuẩn kế toán quốc tế, là những khung tham chiếu cho việc lập và công bố báo cáo tài chính của các ngân hàng, nhằm đảm bảo tính minh bạch, so sánh và tin cậy của thông tin kế toán. Những nhân tố pháp l trên có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến mức độ công bố thông tin kế toán của các doanh nghiệp. Tác động tích cực là khi những nhân tố pháp l khuyến khích hoặc bắt buộc các doanh nghiệp cung cấp thông tin kế toán đầy đủ, chính xác và kịp thời cho các bên liên quan, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc công bố thông tin kế toán.
Tác động tiêu cực là khi những nhân tố pháp l gây ra những khó khăn cản trở doanh nghiệp. Nhân tố xã hội: Nhân tố xã hội ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin kế toán là một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu kế toán. Các nhân tố xã hội có thể bao gồm các bên liên quan của doanh nghiệp, như cổ đông, nhà đầu tư, khách hàng, nhà cung cấp, nhân viên, chính phủ và cộng đồng. Mức độ công bố thông tin kế toán là mức độ mà doanh nghiệp tiết lộ các thông tin về hoạt động kinh doanh, tài chính và môi trường của mình trong các báo cáo kế toán.
Mức độ công bố thông tin kế toán có thể ảnh hưởng đến uy tín, minh bạch và hiệu quả của doanh nghiệp trên thị trường. Các bên có liên quan có 15 thể tạo ra áp lực hoặc khuyến khích ngân hàng niêm yết công bố thông tin kế toán một cách đầy đủ và chính xác. Đối thủ cạnh tranh: Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin kế toán của các ngân hàng là nhân tố đối thủ cạnh tranh. Nhân tố này cho thấy mức độ cạnh tranh của thị trường mà ngân hàng hoạt động và ảnh hưởng đến chiến lược công bố thông tin của ngân hàng.