Chương 1: Cơ sở lý luận về thu nhập của lao động dưới tac động của cơ giới hóa nông nghiệp Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu Chương 3: Thực trạng cơ giới hóa nông nghiệp ở huyện Hoàng Su Phì, tình Hà Giang Chương 4: Đề xuất biện pháp và những khó khăn nhất định 17 CHUONG 1: CO SỞ LÝ LUẬN VE THU NHAP CUA LAO ĐỘNG DƯỚI TAC DONG CUA CO GIOI HOA NONG NGHIEP 1. Khái niệm và đặc điểm của lao động nông thôn 1. Khái niệm về lao động nông thôn Lao động là hoạt động có ý thức của con người, đó là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động cải biến nó tạo ra sản pham dé thỏa mãn nhu cau của mình và xã hội. Hoạt động lao động của con người có vai trò hết sức quan trọng.
Trong lao động sản xuất ra của cải vật chất, con người luôn tác động vào các vật chất của tự nhiên, biến đổi nó cho phù hợp với nhu cầu con người. Trong quá trình đó, con người ngày càng phát hiện được những đặc tính, những quy luật của thế giới tự nhiên, từ đó họ cũng không ngừng thay đổi phương thức tác động vào thế giới tự nhiên, cải tiến các thao tác và công cụ lao động sao cho hoạt động của họ ngày càng hiệu quả hơn. Trong lao động, con người không chỉ nâng cao được trình độ hiểu biết về thế giới tự nhiên mà còn cả những kiến thức về xã hội và nhân cách đạo đức. Vì vậy, có thể nói, lao động là điều kiện tiên quyết cho sự tổn tại va phát triển xã hội.
Theo đó, lao động nông thôn là toàn bộ những hoạt động lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất của những người lao động nông thôn. Do đó, lao động nông thôn bao gồm: lao động trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp nông thôn, dịch vụ nông thôn. Nguồn lao động là toàn bộ những người trong độ tudi lao động có kha năng lao động. Lực lượng lao động là bộ phận của nguồn lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động dù đang có việc làm hay thất nghiệp và đang có nhu câu tìm việc làm.
18 Vì vậy, có thé đưa ra khái niệm về lao động nông thôn như sau: “Lao động nông thôn là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động sống và làm việc ở nông thôn ”. Đặc điểm của lao động nông thôn Lao động nông thôn sống và làm việc rải rác trên địa bàn rộng làm cho việc bồi dưỡng đào tạo, cung cấp thông tin cho lao động nông thôn rất khó khăn, vì vậy, có thê thấy lao động nông thôn có một số đặc điểm riêng như sau: Thứ nhất, lao động nông thôn có trình độ văn hóa và chuyên môn thấp hơn so với lao động ở thành thị. Tỉ lệ lao động nông thôn đã qua đào tạo chiếm một tỉ lệ rất thấp bởi lao động nông thôn chủ yếu học nghề thông qua việc hướng dẫn của thế hệ trước hoặc thông qua cách truyền lại cho nhau. Điều này làm cho lao động nông thôn có tính bảo thủ nhất định, tạo ra sự khó khăn cho việc thay đôi phương hướng sản xuất và thực hiện phân công lao động, hạn chế sự phát triển kinh tế nông thôn.
Hơn nữa mức độ áp dụng máy móc thiết bị vào sản xuất còn thấp vì thế mà sản xuất nông nghiệp chỉ đòi hỏi về sức khỏe, sự lành nghé và kinh nghiệm. Mỗi lao động có thé đảm nhận nhiều công việc khác nhau nên lao động nông thôn ít chuyên sâu hơn lao động trong các ngành công nghiệp và một số ngành khác. Bên cạnh đó, phần lớn lao động nông nghiệp mang tính phổ thông, ít được đào tạo, sản xuất chủ yếu phụ thuộc vào kinh nghiệm và sức khỏe, tổ chức lao động đơn giản, công cụ lao động cũng thô sơ mang tinh tự chế cao. Thứ hai, lao động nông thôn mang tính thời vụ rõ rệt.
Sản xuất nông nghiệp luôn chịu tác động và bị chi phối mạnh mẽ bởi các qui luật sinh học và điều kiện tự nhiên của từng vùng (khí hậu, đất đai,. Do đó, quá trình sản xuất mang tính thời vụ cao, thu hút lao động không đồng đều. Chính vì tính chất này đã làm cho việc sử dụng lao động ở các vùng nông thôn trở nên phức tạp hơn. 19 Thứ ba, số lượng lao động nông thôn thường tăng nhiều hơn và với tốc độ nhanh hơn so với lao động ở thành thị.
Điều này là do ý thức và nhận thức của người dân tại các vùng này còn khá kém dẫn đến việc sinh con không có kế hoạch. Nhiều cặp vợ chồng không hề có ý thức về việc phải sinh con như thế nào mà lại tuân theo phong tục tập quán, con cái là của trời cho sinh vài ba đứa cho có anh có em. Mặt khác nhiều gia đình vẫn còn duy trì hệ luy của suy nghĩ trọng nam khinh nữ, cần sinh con trai dé nối dõi tông đường. Chính tư tưởng còn mang nặng hủ tục này đã đây gánh nặng sinh đẻ lên vai người phụ nữ.
Và vì lý do này nên công tác tuyên truyền vận động thực hiện các chính sách về dân số/ kế hoạch hoá gia đình gặp rất nhiều khó khăn. Dân số được coi là yếu tố cơ bản quyết định số lượng lao động, theo đó, quy mô và cơ cau của dân số có ý nghĩa tác động đến quy mô cơ cấu nguôn lao động. Khái niệm và các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của lao động nông thôn 1. Khái niệm về thu nhập của lao động nông thôn Thu nhập là khoản của cải thường được tính thành tiền mà một cá nhân, một doanh nghiệp hoặc một nên kinh tế nhận được trong một khoảng thời gian nhất định từ công việc, dịch vụ hoặc hoạt động nào đó.
Thu nhập có thể gồm các khoản như tiền lương, tiền công, tiền cho thuê tài sản, lợi nhuận kinh doanh. Thu nhập có thé có được từ nhiều nguồn khác nhau, có thé từ lao động, từ việc sở hữu những giấy tờ có giá trị, từ thừa kế, được tặng cho. Theo Điều 58 Hiến pháp năm 1992, công dân có quyên sở hữu về thu nhập hợp pháp. Như vậy, những thu nhập bat hợp pháp, không có cơ sở pháp lí, không được Nhà nước, xã hội thừa nhận.
Thu nhập của từng cá nhân, từng hộ gia đình, từng đơn vi sản xuât, kinh doanh, dịch vụ và cả một nước luôn là môi quan 20 tâm lớn của xã hội. Trong quá trình lao động, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, con người tạo ra một lượng của cải nhất định và được xã hội phân phối lại những khoản của cải tương ứng, thích hợp. Mỗi phương thức sản xuất, mỗi hình thức sở hữu có một hình thức phân phối thu nhập cá nhân thích hợp và khi có hình thức phân phối thu nhập cá nhân phù hợp, có thể tạo được động lực mạnh mẽ khai thác được các tiềm năng xã hội, trực tiếp góp phần thúc day sản xuất phát trién. Thu nhập của người lao động là tong giá trị của các khoản thu nhập từ tiền công, tiền lương và các khoản thu nhập khác có tính chất như lương gồm tiền làm thêm, tiền thưởng, tiền phụ cấp, tự kinh doanh,.
của những người lao động. Trong đó, đối với người lao động nông thôn làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp và liên quan đến nông nghiệp thì thu nhập này có thể bao gồm các khoản thu nhập từ bán sản phẩm nông nghiệp, tiền lương từ làm việc trong các trang trại hoặc doanh nghiệp nông nghiệp, các khoản hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức xã hội, và các khoản thu nhập khác như từ chăn nuôi, thủ công mỹ nghệ, du lịch nông thôn,. Các khoản thu nhập này có thé bằng tiền mặt hoặc hiện vat. Qua đó, có thé đưa ra khái niệm về thu nhập của lao động nông thôn như sau: “Thu nhập của lao động nông thôn là tong giá trị các khoản thu nhập từ hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp, các khoản hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức xã hội, và các khoản thu nhập khác như kinh doanh buôn bán, kinh doanh du lich,.
Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của lao động nông thôn Thu nhập của người lao động nông thôn thường thấp hơn so với người lao động thành thị và có sự khác biệt đáng kế giữa các khu vực nông thôn. Nhiều người lao động nông thôn phụ thuộc vào các hoạt động nông nghiệp truyền 21 thống và phụ thuộc vào một số mùa vụ nhất định dé có thu nhập. Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của lao động nông thôn có thê ké đến là: Thứ nhất, về nguồn nhân lực: Đây là một yếu tố quan trọng bởi con người là trung tâm, là nguồn vốn vô tận dé tao ra cua cai vat chat, chính con người quyết định nên hình thức lao động. Yếu tổ con người trong sản xuất cũng được đánh giá bởi nhiều khía cạnh: độ tuôi, trình độ, số lượng lao động,.
Trong đó một số yêu tô ảnh hưởng chính là: Một là, về độ tuôi, độ tuổi của người lao động cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng lao động cũng như hình thức lao động. Đặc biệt lao động ở nông thôn thì cần nguồn lao động trẻ, có sức khỏe tốt bởi vì hầu hết những công việc ở nông thôn thường là những việc làm nặng nhọc. Hai là, về trình độ học vấn, trình độ học vấn là một khía cạnh rất quan trọng dé đánh giá chất lượng của nguồn nhân lực. Một nguồn nhân lực được xem là có chất lượng cao khi trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, kỹ năng lao động thành thạo.
Trong đó, trình độ học vấn của người lao động là yếu tố rất đáng quan tâm, nó giúp cho người lao động nắm bắt được những kiến thức mới, nó còn là một công cụ giúp người lao động tiếp cận được những tri thức mới, nâng cao khả năng tư duy sáng tạo của người lao động. Thứ hai, về nguồn vật lực: Nguồn vật lực bao gồm đất đai, máy móc thiết bị phục vụ cho việc sản xuất. Đất sản xuất là một trong những nguồn lực vật chất quý giá giúp cho người dân phát triển kinh tế. Đất sản xuất bao gồm đất trồng lúa, đất chuyên màu, đất trồng cây ăn trái, đất nuôi trồng thủy sản.
Máy móc thiết bị phục vụ cho việc sản xuất như máy cày, bình phun nước,. cũng là nhân tố chính ảnh hưởng đến thu nhập của lao động nông thôn.