CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1.Nghiên cứu nước ngoài KNSL là nền tảng cho bất kỳ công ty nào để duy trì lợi thế cạnh tranh và tạo điều kiện cho sự phát triển lâu dài. Các yếu tố thúc đẩy lợi nhuận có thể phụ thuộc vào ngành và con đường dẫn đến tối đa hóa lợi nhuận. Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới chỉ ra những tác động tiêu cực và tích cực giữa cơ cấu vốn và KNSL. Theo nghiên cứu của Aamir Nazir, Muhammad Azam và Muhammed Usman Khalid (2021) về “Tài trợ nợ và hiệu quả hoạt động của công ty: bằng chứng thực nghiệm từ Sở giao dịch chứng khoán Pakistan” đã chỉ ra rằng nợ ngắn hạn và nợ dài hạn đều có mối quan hệ tiêu cực và đáng kể với hiệu quả tài chính của công ty thông qua mẫu nghiên cứu 5 năm 2013-2017 của 30 công ty hoạt động trong lĩnh vực ô tô, xi măng.
Tuy nhiên, tăng trưởng doanh thu và quy mô công ty đều có tác động tích cực đến lợi nhuận của các công ty thuộc lĩnh vực phi tài chính. Điều này cho thấy quy mô công ty càng lớn thì hiệu quả hoạt động của công ty càng tốt. Theo nghiên cứu của Ivana Milošev (2021) về “Tác động của quản lý nợ đến KNSL của các công ty phi tài chính lớn ở Serbia” đã chỉ ra rằng hệ số nợ có tác động tiêu cực đến KNSL đối với các DN phi tài chính tại đất nước này thông qua việc phân tích 50 DN có doanh thu cao nhất tại Serbia giai đoạn 2016-2019. Điều đó ngụ ý rằng mức độ sử dụng đòn bẩy lớn sẽ khiến cho KNSL của các công ty giảm.
Các công ty sử dụng nợ càng cao thì rủi ro càng lớn bao gồm các rủi ro về khả năng thanh toán, vỡ nợ, uy tín của công ty… Theo tác giả Abor (2005) với bài nghiên cứu “Mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và khả năng sinh lợi của 20 DN niêm yết trên thị trường chứng khoán Ghana”. Kết quả cho thấy, mối quan hệ dương giữa nợ ngắn hạn với hiệu quả hoạt động đo bằng tỷ số ROE và mối quan hệ âm giữa nợ dài hạn với hiệu quả hoạt động đo bằng tỷ số ROE. Đối với tổng nợ, nghiên cứu của Abor (2005) cho thấy mối quan hệ dương giữa tổng nợ và hiệu quả hoạt động đo bằng tỷ số ROE. 6 Theo Amarjit Gill (2011) về nghiên cứu “Ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến KNSL: Bằng chứng đến từ Mỹ” kết luận rằng cấu trúc vốn của công ty ảnh hưởng đến lợi nhuận.
Điều này phần lớn là nhờ vào tác động của lá chắn thuế vì lãi vay sẽ được khấu trừ tại Mỹ. Kết quả cho thấy rằng các công ty sẽ có xu hướng sử dụng nợ vay nhiều hơn để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình. Mặc dù lãi vay được khấu trừ thuế, nhưng mức nợ cao hơn sẽ làm tăng tình trạng rủi ro vỡ nợ, do đó, làm tăng nguy cơ phá sản cho công ty. Do đó, công ty phải xem xét sử dụng một cấu trúc vốn tối ưu.
Cấu trúc vốn tối ưu bao gồm một số khoản nợ, nhưng không phải 100% nợ Theo nghiên cứu của Dr. Mohammad Fawzi Shubita & Dr. Jaafer Maroof alsawalhah (2012) về tác động của cơ cấu vốn đến KNSL của các công ty công nghiệp niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Amman trong khoảng thời gian 6 năm (2004- 2009) gồm 39 công ty. Kết quả nghiên cứu này cho thấy mối quan hệ tiêu cực đáng kể giữa nợ và KNSL.
Những phát hiện này ngụ ý rằng nợ càng cao, lợi nhuận của công ty càng thấp. Theo các tác giả Saurabh Chadha1, Anil K. Sharma (2016) trong nghiên cứu “Cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của công ty: Bằng chứng thực nghiệm từ Ấn Độ” đã chỉ ra mối tương quan âm đáng kể giữa ROE với đòn bẩy tài chính thông qua việc phân tích dữ liệu từ 422 công ty sản xuất của Ấn Độ. Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra các biến độc lập như quy mô, tuổi tác, tăng trưởng doanh thu…là những yếu tố quyết định quan trọng đến hiệu quả tài chính của một công ty trong lĩnh vực sản xuất của Ấn Độ.
Theo bài nghiên cứu của Mahfuzah Salim, Dr.Raj Yadav (2012) về “ Cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của công ty: Bằng chứng từ công ty niêm yết tại Malaysia” đã chỉ ra rằng hệ số nợ và hệ số nợ ngắn hạn có tác động tiêu cực đến KNSL đo bằng ROE trong khi nợ dài hạn có tác động tiêu cực đến ROA. Bài nghiên cứu thông qua việc phân tích dữ liệu của 237 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Bursa Malaysia giai đoạn 1995-2011 để rút ra được những kết luận như trên.Nghiên cứu trong nước Theo ThS. Lê Thị Mỹ Phương (2020) chỉ ra cơ cấu vốn có tác động cùng chiều đến hiệu quả tài chính trong tất cả các nhóm ngành của ngành sản xuất. Theo tác giả, nhờ có được những lợi ích từ lá chắn thuế, việc sử dụng đòn bẩy tài chính chính là cách để các công ty ngành sản xuất nâng cao KNSL, bao gồm cả nợ ngắn hạn và nợ dài hạn.
Qua đó cho thấy, các DN đã tận dụng được hiệu ứng của đòn bẩy tài chính dương trong việc gia tăng hiệu quả tài chính, từ đó khuếch đại lợi nhuận vốn chủ sở hữu Tác giả Ngô Thị Ngọc và cộng sự (2019) trong nghiên cứu “Mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của các công ty cổ phần ngành thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” đã chỉ ra mối quan hệ ngược chiều của KNSL và hệ số nợ vay. Theo đó, các DN làm ăn tốt thường có xu hướng giảm vay nợ. Bài nghiên cứu đã sử dụng số liệu của 69 DN ngành thủy sản được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2017. Theo tác giả Trần Thụy Minh Châu (2018) trong nghiên cứu “Ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến khả năng sinh lợi của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” đã chỉ ra rằng cấu trúc vốn có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với ROA và ROE thông qua mẫu nghiên cứu gồm 566 DN niêm yết tại 2 sàn HOSE và HNX từ năm 2005 - 2014 trừ các ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính,.Với kết quả này, tác giả không khuyến khích các công ty gia tăng việc sử dụng nợ để tận dụng những lợi ích từ lá chắn thuế, việc gia tăng sử dụng nợ sẽ gia tăng chi phí lãi vay, gây ra những áp lực tài chính từ các khoản lãi và nợ gốc, từ đó làm giảm KNSL, ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của các công ty Nhóm tác giả Nguyễn Hải Nam, Cao Thị Nhật Lệ, Hoàng Tiến Nhật Anh (2022) đã có nghiên cứu về “Tác động của cấu trúc vốn tới KNSL của các DN thuộc nhóm ngành bất động sản được niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE và HNX” chỉ ra cấu trúc vốn nợ ngắn hạn và tổng nợ có tác động tiêu cực tới KNSL của DN, có thể dẫn đến một số rủi ro trong hoạt động kinh doanh.
Ngành bất động sản là một ngành có chu kỳ kinh doanh dài, sử dụng nguồn vốn lớn đặc biệt là nguồn vốn vay. Do đó sẽ phát 8 sinh các chi phí liên quan như chi phí lãi vay, ảnh hưởng đến năng lực tài chính của DN, làm giảm KNSL.Trần Thị Thanh Tú (2010) trong nghiên cứu “Phân tích tác động của cơ cấu vốn đến KNSL của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” đã chỉ ra những mâu thuẫn trong khi các công ty trên HOSE sử dụng đòn bẩy tài chính sẽ có những tác động tiêu cực trong khi các công ty trên HNX đã tận dụng được lợi thế của đòn bẩy tài chính để phát triển công ty Theo nhóm tác giả Doãn Thùy Dương & Đinh Thế Hùng (2014) trong bài nghiên cứu “Cấu trúc vốn và KNSL của DN niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” (2014) đã chỉ ra mối tương quan âm giữa hệ số nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu và hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu với KNSL vốn chủ sở hữu (ROE). Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 235 công ty niêm yết trên HOSE, thông qua mô hình hồi quy và các kiểm định để đưa ra những nhận định về cơ cấu vốn đến KNSL. Theo tác giả Nguyễn Thị Thành Vinh (2021) trong luận án tiến sĩ ngành tài chính- ngân hàng về “Tác động của cơ cấu vốn đến KNSL của các DN niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” đã chỉ ra mối tương quan âm giữa nợ ngắn hạn và nợ dài hạn với ROA và tỷ số nợ ngắn hạn với ROE có mối quan hệ theo dạng parabol có điểm cực đại 1.
Khoảng trống nghiên cứu Nhìn chung các nghiên cứu được công bố đều tập trung khai thác, xử lý số liệu để tìm ra ảnh hưởng của cơ cấu vốn đến KNSL của DN. Có nghiên cứu tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của nợ dài hạn, có nghiên cứu tập trung khai thác các thông tin liên quan đến nợ ngắn hạn, cũng có nghiên cứu tập trung nhiều hơn vào khả năng thanh toán của DN. Các bài nghiên cứu trước đang tập trung vào nghiên cứu các ngành kinh tế có dư địa phát triển lớn, những ngành chủ lực của nền kinh tế như ngân hàng, bất động sản, công nghiệp, hoặc tất cả các công ty đang niêm yết trên thị trường chứng khoán nên tồn tại một số nhược điểm như: 9 Thứ nhất, các bài nghiên cứu đang tập trung ở các nước đã phát triển trong khi Việt Nam là nước đang phát triển. Bên cạnh đó, các bài nghiên cứu trong nước đang tập trung ở ngành bất động sản, sắt thép hoặc nghiên cứu trên toàn sàn chứng khoán… Thứ hai, khoảng thời gian nghiên cứu ngắn, thường từ 3-5 năm trong khi để chỉ rõ được những ảnh hưởng của bất kỳ yếu tố nào đó thường sẽ mất từ 8-10 năm để phân tích và chỉ ra những tác động rõ nét Thứ ba, các bài nghiên cứu vì ở trong không gian và thời gian khác nhau nên đang có những ý kiến trái chiều, những quan điểm khác nhau về các yếu tố ảnh hưởng đến đến cơ cấu vốn và KNSL.
Như vậy, các nghiên cứu sẽ có những ưu và nhược điểm riêng, dẫn đến có những mâu thuẫn trong quá trình nghiên cứu và đưa ra các nhận định. Riêng đối với ngành vận tải biển rất khó để tìm kiếm một bài nghiên cứu trọng tâm, tập trung khai thác, xử lý các số liệu để đưa ra những nhận định chính xác, hợp lý về cơ cấu vốn và KNSL.