Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị 123doc 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Đề tài nghiên cứu ở nƣớc ngoài 1.1 Nghiên cứu liên quan đến chất lượng thông tin. Geert Braam và Ferdy van Beest (2013): “Conceptually – Based Financial Reporting Quality Assessment. An Empirical Analysis on Quality Differences Between UK Annual Reports and US 10-K Reports”: Khuôn mẫu đánh giá chất lượng báo cáo tài chính. Phân tích thực nghiệm sự khác nhau về chất lượng giữa BCTN của Anh và BCTN 10-K của Mỹ.
Nghiên cứu xây dựng 33 thang đo đo lường chất lượng thông tin theo khuôn mẫu lý thuyết FASB và IASB nhằm mục đích đánh giá tính hữu ích của thông tin. Tác giả đánh giá chất lượng thông tin tài chính và thông tin phi tài chính, cũng như thông tin công bố bắt buộc và tự nguyện. Nghiên cứu sử dụng thang đo Likert 5 bậc để đo lường từng thuộc tính của các đặc tính chất lượng. Dữ liệu nghiên cứu lấy từ 70 BCTN của Anh và 70 BCTN theo mẫu 10-K của Mỹ năm 2010 và kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng thông tin trên BCTN của Mỹ hữu ích hơn trong việc ra quyết định.
Nghiên cứu góp phần phát triển công cụ đánh giá chất lượng thông tin toàn diện hơn trên cơ sở khuôn mẫu lý thuyết.M Kallob (2013): “Using the Information Qualitative Characteristics in Measuring the Quality of Financial Report of The Palestinan Banking Sector”: Vận dụng đặc tính chất lượng thông tin để đo lường chất lượng BCTC của các ngân hàng ở Palestin. Với mục tiêu đánh giá chất lượng thông tin BCTC của các Ngân hàng ở Palestin. Bài nghiên cứu kết hợp tất cả các đặc tính để đánh giá toàn diện chất lượng BCTC của khối ngành ngân hàng ở Palestin. Dữ liệu nghiên cứu: BCTC 7 ngân hàng trong nước từ năm 2006 đến năm 2011.
Sử dụng 33 mục chỉ số đo lường trong nghiên cứu của Beest and Braam (2013) để đánh giá chất lượng BCTC trong mô hình nghiên cứu với 5 biến độc lập (tính thích hợp, trình bày trung thực, dễ hiểu, có thể so sánh được và kịp thời) và biến phụ thuộc là chất lượng BCTC. Kết quả nghiên cứu đặc tính cơ bản tác động 66.1% và đặc tính mở rộng tác động đến 70.8% đến chất lượng BCTC. 123doc 6 Ferdy van Beest, Geert Braam và Suzanne Boelens (2009): “Quality of Financial Reporting: measuring qualitative characteristics”: Chất lượng báo cáo tài chính: đặc tính đo lường chất lượng. Bài nghiên cứu đánh giá chất lượng thông tin tài chính thông qua hai đặc tính cơ bản (tính phù hợp và trình bày trung thực) và đặc tính nâng cao (có thể hiểu được, so sánh được, kiểm chứng và kịp thời).
Nghiên cứu sử dụng 231 báo cáo thường niên từ các TTCK ở Mỹ, Anh, và Hà Lan năm 2005 và 2007. Mục tiêu chính của nghiên cứu là cải thiện phương pháp đo lường chất lượng BCTC. Kết quả nghiên cứu kết luận rằng công cụ đo lường chất lượng BCTC có giá trị và đáng tin cậy. Với công cụ đo lường này đã khắc phục vấn đề tin cậy và giá trị ở những phương pháp đo lường trước đây như: công cụ khám phá quản trị lợi nhuận và mô hình giá trị hợp lý.2 Nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa cơ cấu quản trị, cơ cấu sở hữu và chất lượng thông tin Raida Chakroun và Khaled Hussainey (2014): “Disclosure Quality in Tunisian Annual Reports”: Chất lượng công bố báo cáo thường niên ở Tunisian.
Bài nghiên cứu tiếp cận phương pháp đo lường chất lượng công bố của Beest and Braam (2012) và đánh giá chất lượng BCTN trên cả hai khía cạnh chất lượng và số lượng thông tin. Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ 56 BCTN của công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK Tunisian năm 2007 và 2008. Mô hình nghiên cứu với 5 biến độc lập (HĐQT độc lập, quy mô HĐQT, kiêm nhiệm chức danh chủ tịch HĐQT và CEO, tỷ lệ sở hữu quản trị, công ty gia đình) và hai biến phụ thuộc (chất lượng và số lượng thông tin). Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng không phải tất cả yếu tố quản trị công ty ảnh hưởng đến chất lượng công bố thông tin.
Cụ thể là tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập, tỷ lệ sở hữu quản trị có tác động tích cực đến chất lượng công bố. Ngoài ra nghiên cứu đưa ra kết luận không có sự đồng nhất giữa chất lượng và số lượng thông tin công bố. Nesrine Klai, Abdelwahed Omri (2011): “Corporate Governance and Financial Reporting Quality: The case of Tunisian Firms”: Mối quan hệ giữa quản trị công ty và chất lượng thông tin tài chính. Nghiên cứu cho thấy cơ chế quản trị công ty có tác động mạnh rõ nét đến chất lượng thông tin tài chính.
Tác giả tập trung vào đặc tính của 123doc 7 HĐQT và cơ cấu sở hữu của các công ty niêm yết trên TTCK Tunis giai đoạn 1997- 2007. Đặc biệt khi quyền lực tập trung vào nhà đầu tư nước ngoài, công ty gia đình, người nắm giữ số lượng cổ phiếu lớn làm giảm chất lượng báo cáo. Trong khi, việc kiểm soát của Nhà nước và các tổ chức tài chính làm tăng chất lượng báo cáo. Do family firms provide more or less voluntary disclosure?: “So với công ty khác, công ty gia đình công bố tự nguyện nhiều hơn ít”.
Tác giả tiến hành nghiên cứu thực nghiệm với 4415 công ty trong giai đoạn 1996-2000. Kết quả cho thấy, so với công ty “khác”, công ty gia đình cung cấp thông tin dự báo lợi nhuận và các cuộc họp thảo luận với các nhà phân tích tài chính ít hơn, nhưng lại cung cấp nhiều thông tin cảnh báo rủi ro. Nghiên cứu cũng chứng minh rằng quyền sở hữu gia đình chi phối quyền sở hữu nội bộ không phải thành viên gia đình và quyền sở hữu tập thể tập trung giải thích công bố thông tin tự nguyện.2 Đề tài nghiên cứu trong nƣớc 1.1 Nghiên cứu liên quan đến chất lượng thông tin. Đỗ Thị Ly (2014): “Đánh giá chất lượng thông tin trình bày trên báo cáo thường niên của các công ty thủy sản niêm yết trên TTCK Việt Nam”.
Tác giả kế thùa nghiên cứu của Geert Braam và Ferdy van Beest (2013) đánh giá chất lượng thông tin trên BCTN của 20 DN thủy sản niêm yết trên TTCK Việt Nam và khảo sát nhu cầu thông tin trên BCTN của các nhóm đối tượng sử dụng, rồi từ đó đưa ra những đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thông tin trình bày trên BCTN của các công ty thủy sản niên yết trên TTCK Việt Nam. Lê Thị Tú Oanh (2012): “Hoàn thiện hệ thống Báo cáo thường niên trong các công ty cổ phần niêm yết trên TTCK Việt Nam”. Tác giả thu thập 40 BCTN của công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam từ năm 2007 đến 2010 nhằm đánh giá thực trạng thông tin trên BCTN ở khía cạnh số lượng, chất lượng, hình thức, cách thức và thời gian công bố. Bên cạnh đó, tác giả tiến hành khảo sát nhóm đối tượng sử dụng (nhà đầu tư, chuyên gia phân tích và DN) về nhu cầu thông tin để có những đề xuất sửa đổi, bổ sung một số nội dung nhằm hoàn thiện hệ thống BCTN trên nguyên tắc: phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế, phù hợp với xu thế phát triển, phù hợp với nhu cầu 123doc 8 thực tế của đối tượng sử dụng thông tin, phù hợp với đường lối phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Nghiên cứu đã phân tích có hệ thống về lý luận của BCTN trong các DN, chỉ rõ bản chất và nội dung mà BCTN cần có.2 Nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa cơ cấu quản trị, cơ cấu sở hữu và chất lượng thông tin Nguyễn Trọng Nguyên (2015): “Tác động của Quản trị công ty đến chất lượng thông tin BCTC tại các công ty niêm yết ở Việt Nam”. Tác giả đã xây dựng thang đô được kiểm định sự phù hợp cũng như độ tin cậy và giá trị và chất lượng thông tin BCTC hướng đến sự hữu ích đối với người sử dụng thông tin BCTC để ra quyết định kinh tế. Nghiên cứu đánh giá chất lượng thông tin BCTC của 195 DN niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam năm 2012 và tác động của 7 biến độc lập (Thành viên HĐQT độc lập, Kiêm nhiệm CEO và chủ tịch HĐQT, thành viên HĐQT độc lập có chuyên môn, số lượng cuộc họp HĐQT, thành viên BKS độc lập, tỷ lệ thành viên BKS có chuyên môn và kiểm toán viên nội bộ) đến chất lượng thông tin BCTC. Kết quả nghiên cứu BCTN của công ty niêm yết ít có diễn giải, phân tích, công bố ít thông tin, phần lớn chưa thõa mãn đầy đủ các đặc tính chất lượng của thông tin BCTC, yếu tố thành viên HĐQT độc lập, thành viên HĐQT có chuyên môn, số lượng cuộc họp HĐQT, tỷ lệ thành viên BKS có chuyên môn và kiểm toán viên nội bộ có tác động tích cực đến chất lượng thông tin BCTC.
Nguyễn Bích Liên (2012): “Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) tại Doanh nghiệp Việt Nam”. Nghiên cứu quan tâm đến chất lượng thông tin trong môi trường công nghệ thông tin với những tiêu chuẩn: hữu hiệu, hiệu quả, bảo mật, toàn vẹn, sẵn sàng, tuân thủ và đáng tin cậy. Nghiên cứu giải quyết ba vấn đề chính: chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ERP, các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ERP tại doanh nghiệp Việt Nam, kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng đã nhận diện ở trên nhằm nâng cao chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ERP. Tác giả tập trung vào năng lực ứng dụng công nghệ 123doc 9 thông tin cho quy trình xử lý các thông tin kế toán và chất lượng thông tin kế toán phụ thuộc vào ứng dụng hệ thống thông tin ERP.
Nguyễn Phúc Sinh (2008): “Nâng cao tính hữu ích của báo cáo tài chính DN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”. Tác giả đưa ra những đặc tính làm cho thông tin trên BCTC trở nên hữu ích, những nhân tố làm suy giảm tính hữu ích của thông tin trên báo cáo tài chính như những hạn chế nội tại của hệ thống kế toán, những trở ngại trong việc cung cấp thông tin, đặc điểm kinh tế, pháp luật, xã hội,… và quan điểm về tính hữu ích của báo cáo tài chính của nhà nghiên cứu trên thế giới.3 Tổng quan các nghiên cứu liên quan và khoảng trống nghiên cứu 1.