Luận văn thạc sĩ ussh tác động của các chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước đối với phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001 2005 nghiên cứu trường hợp kc 06

Luận văn thạc sĩ ussh phân tích tác động của chương trình khoa học và công nghệ cấp nhà nước đến phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001-2005.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sỹ

2009

86
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

Lý do nghiên cứu

Tổng quan tình hình nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu

Vấn đề nghiên cứu

Giả thuyết nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: TÁC ĐỘNG KT-XH CỦA MỘT SỐ CHƯƠNG TRÌNH KH&CN TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2001-2005

1.1. Chương trình “Ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất các sản phẩm chủ lực và sản phẩm xuất khẩu” (mã số KC-06) và tác động đối với phát triển KT-XH

1.2. Kết luận và khuyến nghị

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

2.2. KHÁI NIỆM VỀ ĐÁNH GIÁ VÀ ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH KH&CN

2.3. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC ĐÁNH GIÁ CÁC CHƯƠNG TRÌNH KH&CN

2.4. THỰC HIỆN ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH KH&CN

2.4.1. Các dạng đánh giá chương trình KH&CN

2.4.2. Phương pháp đánh giá chương trình KH&CN

2.4.3. Tiêu chí đánh giá chương trình KH&CN

3. CHƯƠNG 3: CHƯƠNG TRÌNH ”ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TIÊN TIẾN TRONG SẢN XUẤT CÁC SẢN PHẨM CHỦ LỰC VÀ SẢN PHẨM XUẤT KHẨU” (MÃ SỐ KC-06) TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI

3.1. GIỚI THIỆU VỀ CHƯƠNG TRÌNH KC

3.1.1. Nội dung chủ yếu

3.1.2. Đầu tư kinh phí cho chương trình KC

3.1.3. Cơ cấu tổ chức

3.2. Kết quả khoa học, công nghệ của chương trình

3.3. CÁC KẾT QUẢ CHỦ YẾU CỦA CHƯƠNG TRÌNH KC

3.3.1. Các kết quả đạt trong lĩnh vực Công nghiệp

3.3.2. Các kết quả đạt trong lĩnh vực Nông nghiệp-Lâm-Thủy sản

3.3.3. Các kết quả đạt trong lĩnh vực nghiên cứu về thể chế chính sách thương mại

3.4. TÁC ĐỘNG KT-XH CỦA CHƯƠNG TRÌNH KC-06

3.4.1. Tác động KT-XH của chương trình KC-06 từ góc độ các nhà khoa học

3.4.2. Tác động KT-XH của chương trình KC-06 từ góc độ các nhà quản lý KH&CN

3.4.3. Tác động KT-XH của chương trình KC-06 từ góc độ các chuyên gia đánh giá KH&CN

3.5. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Tài liệu tham khảo

PHIẾU PHỎNG VẤN SÂU

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của chương trình khoa học và công nghệ cấp nhà nước

Chương trình khoa học và công nghệ (KH&CN) cấp nhà nước giai đoạn 2001-2005 đã đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội tại Việt Nam. Các chương trình này không chỉ tập trung vào nghiên cứu và phát triển mà còn hướng tới việc ứng dụng công nghệ vào thực tiễn sản xuất. Sự đầu tư mạnh mẽ từ ngân sách nhà nước đã tạo ra những bước tiến đáng kể trong nhiều lĩnh vực, từ nông nghiệp đến công nghiệp. Tuy nhiên, việc đánh giá tác động của các chương trình này vẫn còn nhiều thách thức và cần được thực hiện một cách hệ thống.

1.1. Định nghĩa và vai trò của chương trình KH CN

Chương trình KH&CN cấp nhà nước được hiểu là một tập hợp các hoạt động nghiên cứu, phát triển nhằm giải quyết các vấn đề cấp bách của xã hội. Vai trò của chương trình này không chỉ dừng lại ở việc phát triển công nghệ mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

1.2. Lịch sử hình thành và phát triển chương trình KH CN

Giai đoạn 2001-2005 đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ của chương trình KH&CN tại Việt Nam. Các chính sách được ban hành nhằm khuyến khích đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, tạo điều kiện cho các nhà khoa học và doanh nghiệp hợp tác.

II. Những thách thức trong việc thực hiện chương trình KH CN

Mặc dù chương trình KH&CN đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong quá trình thực hiện. Các vấn đề như thiếu nguồn lực, sự phối hợp giữa các cơ quan, và việc áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn vẫn còn hạn chế. Điều này đòi hỏi cần có những giải pháp cụ thể để khắc phục.

2.1. Thiếu nguồn lực và đầu tư

Một trong những thách thức lớn nhất là việc thiếu hụt nguồn lực tài chính cho các chương trình KH&CN. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thực hiện và phát triển các dự án nghiên cứu.

2.2. Sự phối hợp giữa các cơ quan

Sự thiếu đồng bộ trong phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và các tổ chức nghiên cứu đã dẫn đến việc triển khai các chương trình KH&CN không hiệu quả. Cần có cơ chế rõ ràng để tăng cường sự hợp tác này.

III. Phương pháp đánh giá tác động của chương trình KH CN

Để đánh giá tác động của các chương trình KH&CN, cần áp dụng các phương pháp đánh giá khoa học và khách quan. Việc sử dụng các chỉ số định lượng và định tính sẽ giúp xác định rõ ràng hơn về hiệu quả của các chương trình này.

3.1. Các phương pháp định tính trong đánh giá

Phương pháp định tính như phỏng vấn sâu và nghiên cứu điển hình giúp thu thập thông tin chi tiết về tác động của chương trình KH&CN từ góc độ các bên liên quan.

3.2. Các phương pháp định lượng trong đánh giá

Phương pháp định lượng như phân tích chi phí-lợi ích và khảo sát sẽ cung cấp các số liệu cụ thể về hiệu quả kinh tế của các chương trình KH&CN.

IV. Ứng dụng thực tiễn của chương trình KH CN trong phát triển kinh tế xã hội

Chương trình KH&CN đã mang lại nhiều ứng dụng thực tiễn trong phát triển kinh tế xã hội. Các sản phẩm nghiên cứu không chỉ giúp nâng cao năng suất lao động mà còn cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân.

4.1. Tác động đến ngành nông nghiệp

Các nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới trong nông nghiệp đã giúp tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, từ đó nâng cao thu nhập cho nông dân.

4.2. Tác động đến ngành công nghiệp

Chương trình KH&CN đã hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc áp dụng công nghệ tiên tiến, từ đó cải thiện quy trình sản xuất và tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho chương trình KH CN

Kết luận từ các nghiên cứu cho thấy chương trình KH&CN cấp nhà nước giai đoạn 2001-2005 đã có những tác động tích cực đến phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả, cần có những điều chỉnh và cải tiến trong cách thức triển khai và đánh giá các chương trình này.

5.1. Đề xuất cải tiến trong quản lý chương trình

Cần xây dựng một hệ thống quản lý chương trình KH&CN hiệu quả hơn, với sự tham gia của các bên liên quan để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả.

5.2. Tương lai của chương trình KH CN tại Việt Nam

Chương trình KH&CN cần tiếp tục được đầu tư và phát triển, với sự chú trọng vào việc ứng dụng công nghệ mới và nâng cao năng lực nghiên cứu trong nước.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh tác động của các chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước đối với phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001 2005 nghiên cứu trường hợp kc 06

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN Nhiệm vụ KH&CN “là những vấn đề KH&CN cần được giải quyết, được tổ chức thực hiện dưới hình thức đề tài, dự án, chương trình KH&CN” (theo Nghị định số 81/2002/NĐ-CP ngày 17/10/2002 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật KH&CN). Đề tài NCKH: là một nhiệm vụ KH&CN nhằm phát hiện quy luật, mô tả, giải thích nguyên nhân vận động của sự vật, hiện tượng hoặc sáng tạo nguyên lý, những giải pháp, bí quyết, sáng chế,. được thể hiện dưới các hình thức: đề tài NCCB, đề tài NCƯD, đề tài triển khai thực nghiệm hoặc kết hợp cả NCCB, NCƯD và triển khai thực nghiệm.

Dự án SXTN: là một nhiệm vụ KH&CN nhằm ứng dụng kết quả NCKH và triển khai thực nghiệm để thử nghiệm các giải pháp, phương pháp, mô hình quản lý KT-XH hoặc sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống. Dự án KH&CN có nội dung chủ yếu tiến hành các hoạt động NCKH, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ; áp dụng, thử nghiệm các giải pháp, phương pháp, mô hình quản lý KT-XH. Dự án có thể độc lập hoặc thuộc chương trình KH&CN. Chương trình KH&CN bao gồm một nhóm các đề tài, dự án KH&CN, được tập hợp theo một mục đích xác định nhằm thực hiện mục tiêu phát triển KH&CN cụ thể hoặc ứng dụng trong thực tiễn.

Chương trình KH&CN trọng điểm cấp Nhà nước (theo Quy định tạm thời về quản lý chương trình KH&CN trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2001-2005 ban hành kèm theo quyết định số 41/2001/QĐ-BKHCNMT) bao gồm các Đề tài NCKH và triển khai thực nghiệm (gọi tắt là Đề tài) và Dự án SXTN (gọi tắt là Dự án). KHÁI NIỆM VỀ ĐÁNH GIÁ VÀ ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH KH&CN 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đánh giá được định nghĩa theo nhiều cách. Theo từ điển Oxford English Dictionary, đánh giá là một hành động xác định, hoặc định giá (hàng hoá, v.), một sự tính toán hoặc tuyên bố về giá trị; là một hành động đánh giá hoặc xác định giá trị (của một biểu diễn toán học, một số lượng vật chất, v.); hoặc của một sự ước tính hiệu lực (của xác suất, bằng chứng, vv. Trong bộ môn đánh giá, thuật ngữ này có những ý nghĩa khác nhau.

Trên thực tế, vẫn chưa có một sự nhất trí chung về định nghĩa thế nào là đánh giá. Khi xem xét về vai trò của ngôn ngữ đối với đánh giá, Michael Scriven, một trong những nhà sáng lập ra bộ môn đánh giá hiện đại, đã đưa ra nhận xét rằng có gần sáu mươi thuật ngữ khác nhau đối với việc đánh giá được áp dụng cho tình huống này hay tình huống khác. Những thuật ngữ này gồm: xét xử (adjudge), đánh giá (appraise), phân tích (analyze), đánh giá (assess), phê phán (critique), kiểm tra (examine), xếp hạng (grade), kiểm định (inspect), phán xử (judge), cho điểm (rate), xếp hạng (rank), xem xét (review), kiểm tra (test). Theo OECD, đánh giá được định nghĩa: Đánh giá là việc xem xét một cách có hệ thống và khách quan về một dự án, chương trình hoặc chính sách đang tiến hành hoặc đã hoàn thành, bao gồm cả việc thiết kế, thực hiện và kết quả của nó.

Mục đích là nhằm xác định tính hợp lý và tính thực hiện của các mục tiêu, hiệu quả phát triển, tác động và tính bền vững. Quá trình đánh giá phải cung cấp các thông tin đáng tin cậy, hữu ích, cho phép áp dụng các bài học rút ra vào tiến trình ra quyết định của các nhà tài trợ và quốc gia nhận tài trợ. Đánh giá cũng nói đến quá trình xác định giá trị hoặc ý nghĩa của một hoạt động, chính sách hoặc chương trình. Đó là những nhận định càng hệ thống và khách quan càng tốt, về những can thiệp dự kiến, đang diễn ra hoặc đã hoàn thành.

Chương trình KH&CN là một tập hợp các hoạt động, các đề tài, dự án có liên quan đến nhau và có thể liên quan đến một hoặc nhiều ngành, lĩnh vực, nhiều vùng lãnh thổ, nhiều chủ thể khác nhau nhằm đạt được một số mục tiêu xác định, có thời hạn thực hiện tương đối dài hoặc theo nhiều giai đoạn, nguồn lực để thực hiện có thể được huy động từ nhiều nguồn ở những thời điểm khác nhau, với nhiều phương thức khác nhau. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, đánh giá chương trình KH&CN là đánh giá một nhóm các hoạt động có các mục tiêu liên quan với nhau. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC ĐÁNH GIÁ CÁC CHƯƠNG TRÌNH KH&CN. Đặc thù của các chương trình KH&CN là có tính liên ngành, được đầu tư kinh phí trong một giai đoạn dài, tập hợp lực lượng từ nhiều cơ quan KH&CN để thực hiện các mục tiêu lớn về KH&CN của đất nước, do đó việc quản lý và đánh giá các chương trình đóng vai trò rất quan trọng.

Đánh giá phục vụ ra quyết định Theo điều tra do APEC thực hiện, lý do chủ yếu để nhiều nước trong tổ chức này thực hiện việc đánh giá các chương trình quốc gia về KH&CN là hỗ trợ quá trình ra quyết định. Các Chính phủ đều phải đối mặt với một khó khăn chung, đó là phân bổ thế nào những nguồn lực hạn chế (như nhân lực, ngân sách, hạ tầng…) để đạt được hiệu suất cao hơn cho nền kinh tế. Do những đặc thù khác nhau về nhiều mặt, về quy mô nền kinh tế, về hạ tầng cơ sở, tài nguyên…mà không thể có câu trả lời chung cho tất cả các Chính phủ của các nước. Thêm vào đó, tốc độ phát triển rất nhanh của KH&CN làm cho vấn đề trở nên phức tạp hơn.

Trong bối cảnh như vậy, đánh giá sẽ giúp cho việc lựa chọn ra những ưu tiên và giúp Chính phủ giải quyết vấn đề phân bổ hiệu quả ngân sách và nguồn lực. Đánh giá phục vụ quản lý Lý do quan trọng thứ hai của đánh giá là nhu cầu quản lý. Các nhà quản lý chương trình KH&CN thường rất gần gũi với các dự án và hoạt động cụ thể của chương trình. Họ có thể liên hệ các thông tin đầu ra, đầu vào với các chi tiết nhỏ nhất của chương trình.

Họ cũng rất nỗ lực để đảm bảo việc triển khai thành công chương trình. Tuy vậy, họ thường có thể thiếu các thông tin dưới dạng các mẫu biểu cần thiết để mô tả và ghi lại các lợi ích mà các chương trình họ quản lý tạo ra, đặc biệt là vào giai đoạn giữa kỳ và giai đoạn về sau khi mà các tác động của tri thức hay của thị trường được ghi nhận. Những thông tin nhà quản lý chương trình cần phải biết: 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Liệu các hoạt động nghiên cứu đã được thực hiện đúng chưa? (ví dụ: nghiên cứu có đạt hiệu quả và chất lượng cao hay không?) - Liệu các nội dung R&D của chương trình đã tập trung vào đúng lĩnh vực nghiên cứu hay chưa? - Làm thế nào để tri thức được tạo ra từ các chương trình có thể được ứng dụng và đem lại nhiều lợi ích cho quốc gia? - Làm thế nào để các hoạt động do chương trình tạo ra góp phần nâng cao năng lực R&D của quốc gia? - Liệu các nỗ lực từ trước đã xứng đáng hay chưa và liệu các sáng kiến mới có xứng đáng hay không ? Việc có sẵn các thông tin này bất kể khi nào đều cần thiết và là điều kiện then chốt để đảm bảo sự thành công dài hạn của chương trình, đồng thời có thể trang bị cho những nhà quản lý chương trình các thông tin cần thiết để nâng cao hiệu quả của chương trình và có thể nêu lên một cách rõ ràng toàn bộ lợi ích từ các hoạt động R&D. Ngoài ra, dựa trên các đánh giá so sánh về hoàn cảnh hiện tại với mục tiêu ban đầu, cơ quan quản lý chương trình sẽ có những yêu cầu điều chỉnh cần thiết.

Do hoàn cảnh thực tế xung quanh đã thay đổi (đặc biệt khi phát triển KH&CN toàn cầu đang ở tốc độ nhanh và quá trình toàn cầu hóa tác động lên mọi lĩnh vực) thì có thể chương trình nên được chấm dứt sớm, hoặc thay đổi mục tiêu, hoặc thay đổi phương pháp thực hiện. Những người nộp thuế vào ngân sách có quyền được biết Chính phủ thu thuế của họ sử dụng như thế nào. Thông qua đánh giá, Chính phủ có thể giải thích việc chi tiêu đó cho họ. Việc đánh giá cũng chứng minh tính hiệu quả và sự minh bạch trong việc sử dụng ngân sách cho KH&CN, sẽ làm tăng sự đồng thuận của xã hội, nhận thức của cộng đồng về vai trò của Chính phủ trong hoạt động NCKH và phát triển công nghệ.

THỰC HIỆN ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH KH&CN 1. Các dạng đánh giá chương trình KH&CN Đánh giá chương trình KH&CN được thực hiện theo 4 giai đoạn: 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (1) Đánh giá đầu kỳ (hay đánh giá thẩm định – Ex-ante Evaluation): là đánh giá được tiến hành trước khi thực hiện chương trình. Giai đoạn này đánh giá tính khả thi và chất lượng thiết kế chương trình. (2) Đánh giá giữa kỳ (Mid-term Evaluation): là dạng đánh giá được tiến hành vào giữa thời gian thực hiện chương trình nhằm xem xét quá trình thực hiện từ khi bắt đầu và đề xuất các điều chỉnh cần thiết.

(3) Đánh giá cuối kỳ (đánh giá kết thúc – Terminal Evaluation): là đánh giá được thực hiện ngay sau kết thúc thực hiện chương trình, nhằm xem xét các kết quả đạt được và tổng kết toàn bộ quá trình thực hiện, rút ra các kinh nghiệm cần thiết làm cơ sở lập báo cáo kết thúc chương trình. (4) Đánh giá tác động (Impact Evaluation): là đánh giá được thực hiện vào một thời điểm thích hợp, kể từ khi đưa chương trình vào khai thác, sử dụng nhằm làm rõ hiệu quả, tính bền vững và tác động KT-XH của chương trình. Phương pháp đánh giá chương trình KH&CN Có nhiều phương pháp định tính và định lượng để đánh giá chương trình KH&CN. Phương pháp tổng hợp kết hợp cả định tính và định lượng được khai thác tốt nhất.

Việc lựa chọn phương pháp nào tuỳ thuộc vào đặc thù của từng chương trình. Tuy nhiên, khi thiết kế và tổ chức đánh giá các chương trình KH&CN điểm mấu chốt là làm thế nào để thoả mãn tốt nhất yêu cầu về đánh giá trong điều kiện hạn chế nguồn lực. Việc lựa chọn phương pháp đánh giá cần phải dựa trên mục tiêu, kinh phí và thời lượng tương ứng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ