CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nghèo đói là một trong những vấn đề cần giải quyết của mục tiêu thiên niên kỉ về xóa đói giảm nghèo (XĐGN). Tiếp cận vấn đề nghèo đói có khá nhiều trường phái, ví dụ như vốn con người mà đại diện là Arrow (1969), Romer (1990), Audretsch & Feldman (1996), Lucas (1988), sau đó được phát triển bởi Rebelo (1991), Mankiw và cộng sự (1992). Nhánh nghiên cứu này đánh giá việc muốn phát triển kinh tế phải dựa trên sự phát triển của vốn xã hội, được xây dựng bởi con người.
Vì vậy, có nhiều hướng để giải quyết mục tiêu nghèo đói và sau đó là mục tiêu phát triển kinh tế, như đầu tư vào cơ sở hạ tầng, vào giáo dục, vào dân trí tài chính. Và một trong những khía cạnh tiếp theo được đẩy mạnh là tài chính cho khu vực nghèo đói (Ledgerwood, 1998; Ledgerwood và cộng sự, 2013). Đối với vấn đề tài trợ cho nghèo đói, các nhà nghiên cứu đều đồng thuận rằng từ thiện hoặc hỗ trợ của Chính phủ không mang lại nhiều giá trị, mà phải thông qua tín dụng, tức là có vay, có trả, có lãi (Lê Thanh Tâm, 2015; Nguyen và cộng sự, 2017; Khúc Thế Anh và cộng sự, 2020). Do đó, vấn đề hình thành các chính sách tín dụng (CSTD) cho khu vực được ưu tiên xuất hiện.
Với khu vực nghèo đói, vấn đề này được gọi chung là tài chính vi mô - mà các khoản vốn vay của Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam (NHCSXH) là một phần trong đó. Đánh giá tác động của tài chính toàn diện và CSTD lên thu nhập của người dân khu vực nông thôn là một trong những nhánh nghiên cứu mới, được phát triển trong các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi (Armendáriz & Morduch, 2010; Asian Development Bank, 1999; Abaidoo & Agyapong, 2022; Duong & Antriyandarti, 2021). Kết quả cho thấy, CSTD là một trong những biện pháp giúp thúc đẩy (XĐGN), và người ta đã nhìn thấy rất nhiều bằng chứng về nó - ví dụ trong nghiên cứu của Ashley & Carney (1999) đưa ra bằng chứng về sự cải thiện thu nhập của các hộ gia đình (HGĐ) nghèo thuộc các nước Tây Á, Asian Development Bank (1999) với các nhóm nước thuộc Châu Á, Ledgerwood và cộng sự (2013) với một loạt các nước có tài chính vi mô. Với nhóm các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi, Nghiem và cộng sự (2012) hay Nguyen và cộng sự (2017) cũng cho thấy CSTD có tác động đến việc gia tăng thu nhập của hộ nghèo, và làm tăng quyền của người phụ nữ trong gia đình.
Nhưng cụ thể tăng bao nhiêu? Và tăng bởi cấu phần nào trong chính sách? Một số nghiên cứu như Johnston Jr & Morduch (2008) tại Indonesia, Khandker (2005) tại Bangladesh đều nghiên cứu tại các nước theo Hồi giáo, tức là có thể thiết kế các khoản vay nhưng không 2 được có lãi - vì thế phải chuyển hướng sang các biện pháp khác nếu các ngân hàng muốn tồn tại. Điều này đúng, nhưng khó áp dụng bởi một nước như Việt Nam - cho vay có lãi là điều hiển nhiên. Vì vậy, tác động của từng cấu phần (như mức vốn vay, lãi suất cho vay, thời hạn cho vay, tính chất của khoản vay như cho vay theo tổ…) cần phải có đánh giá lại, nhất là trong điều kiện khách hàng vi mô chiếm đến trên 70% tại Ngân hàng chính sách xã hội (Đào Lan Phương & Lê Thanh Tâm, 2017). Vì vậy, đánh giá tác động của CSTD của NHCSXH đến hộ nghèo ở Việt Nam sẽ bổ sung vào lí thuyết về tài chính vi mô, nhằm minh chứng cho tác động của tín dụng đến thu nhập của khu vực nghèo đối tại một nước có nền kinh tế đang chuyển đổi, chịu ảnh hưởng của định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa chịu ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo và Phật giáo truyền thống - có những sự khác biệt nhất định với các nước đã được đưa ra như Bangladesh, Ấn Độ, Indonesia.
Về mặt thực tiễn, Việt Nam là một trong những quốc gia trên thế giới đạt được những kết quả đáng ghi nhận về giảm nghèo và thành tựu kinh tế trong nhiều năm qua. Tính đến giữa năm 2020, tỷ lệ nghèo sẽ giảm từ 3,75% (năm 2019) xuống dưới 3%, bình quân giảm 1 - 1,5%/năm trong giai đoạn 2016 - 2020; tỷ lệ nghèo tại huyện nghèo giảm trên 4% so với năm 2019, đạt mục tiêu Nghị quyết Quốc hội, Chính phủ giao (Chính phủ, 2019a). Cải cách đất đai và thương mại là những yếu tố chính đóng góp vào tăng trưởng kinh tế cao và bền vững; đây là những lý do chính khiến ba trong số bốn người nghèo thoát nghèo trong thời kỳ này. Tuy nhiên, tốc độ giảm nghèo đã chậm lại theo thời gian (Finn, 2018; UNU-WIDER, 2017).
Hầu hết các hộ nghèo còn lại sống ở các vùng nông thôn hẻo lánh, nơi chủ yếu là dân tộc thiểu số (DTTS) (ADR, 2014; Ban chỉ đạo trung ương chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, 2015; Ban chỉ đạo trung ương chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, 2019). Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã có rất nhiều các chương trình CS hỗ trợ đối tượng là hộ nghèo trên khắp cả nước nhằm mục đích tăng thu nhập (TN) của hộ nghèo và đảm bảo an sinh xã hội. Trong số các CS đó, nổi bật là CSTD của các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô - trong đó điển hình là NHCSXH. Các CSTD có khả năng cung cấp các loại hình dịch vụ và sản phẩm tài chính cho cộng đồng người nghèo nhằm giúp họ cải thiện đời sống, phát triển kinh tế và đóng góp cho xã hội (Tổng cục Thống kê, 2020c; Tổng cục Thống kê, 2020b).
Với một loạt các cấu phần của CSTD hướng đến các đối tượng khác nhau (như cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ dân tộc thiểu số, các doanh nghiệp hoạt động tại vùng nghèo…), mục đích khác nhau (cho vay sản xuất kinh doanh, cho vay nước sạch nông thôn, cho vay xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh), thời hạn khác nhau (từ ngắn hạn đến 3 trên 10 năm)…, NHCSXH đã giải quyết một vấn đề lớn về nghèo đói cho người dân (Ngân hàng Chính sách xã hội, 2021a). Một số nghiên cứu về đã giúp ngân hàng thực hiện tốt hơn các hoạt động này như Dương Quyết Thắng (2016) hay Trần Lan Phương (2016). Tuy nhiên, tác động của từng cấu phần trong tín dụng chính sách của ngân hàng đến thu nhập của từng hộ nghèo ra sao lại chưa được đề cập - để từ đó có hướng tập trung vào những cấu phần nào. Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu: “Tác động của chính sách tín dụng đến hộ nghèo của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam” đã được lựa chọn để nghiên cứu.
Tổng quan nghiên cứu 1. Lý thuyết liên quan Nghiên cứu về CSTD không có lý thuyết gốc rõ ràng, do đó, nghiên cứu về tác động của CSTD đến thu nhập của HGĐ nghèo đói vay vốn cũng không có những nhánh nghiên cứu lớn. Tuy vậy, một số nhánh nghiên cứu nhỏ cũng hình thành và bắt đầu phát triển, luận án đề cập đến Thứ nhất, nhánh nghiên cứu dựa vào vốn con người. Nhánh nghiên cứu về vốn con người cho rằng nếu không phát triển con người thì khó có thể phát triển kinh tế bền vững, bởi nếu không có nhân tố con người thì không thể sử dụng hiệu quả vốn vật chất: ví dụ như đất đai, máy móc… thì vẫn phải “vận hành” bởi con người (Schultz, 1961).
Ý tưởng này hình thành nên vấn đề: đối với người nghèo thì phải cho vay vốn để có thể phát triển giáo dục, tự đào tạo việc làm, rồi phát triển công việc rồi tăng thu nhập. Trong nghiên cứu về vốn con người, có thể chia thành 2 mảng nhỏ hơn: Nhánh đầu tiên là đánh giá tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế. Nhánh này đặc trưng bởi Arrow (1969), Romer (1990), Audretsch & Feldman (1996). Kết quả của nhóm này cũng đưa ra một số kết quả như nếu các chính sách kinh tế (trong đó có chính sách về tín dụng ưu đãi) đầu tư cho con người thì sẽ tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế (Trần Thọ Đạt & Đỗ Tuyết Nhung, 2008; Patrinos và cộng sự, 2018).
Tuy vậy, cũng có một số nghiên cứu thực nghiệm cho ra kết quả ngược. Một nghịch lí là nếu như càng đầu tư vào vốn con người (ví dụ như tỷ lệ giáo viên trên học sinh, hay tỉ lệ biết đọc biết viết) thì lại không đưa ra được những bằng chứng về tăng trưởng kinh tế và thu nhập, đặc biệt tại khu vực nông thôn. Nghiên cứu của Thái Phúc Thành (2014) còn đánh giá, việc đầu tư vào vốn con người (như trình độ giáo dục, trình độ chuyên môn) cho khu vực nông thôn không mang lại kết quả, tức là ngược với một số nghiên cứu trước và kể cả sau này. Nhánh nghiên cứu này làm nền tảng để đưa ra tín dụng chính sách, nhưng không hỗ trợ để giải thích vấn đề tín dụng chính sách có tác động đến thu nhập của người nghèo hay hộ nghèo hay không (mà chỉ tập trung vào hướng vĩ mô).
4 Hướng nghiên cứu cho rằng vốn con người là sự tích lũy kiến thức, kỹ năng, chuyên môn… theo thời gian. Nhánh này được đặc trưng bởi các nghiên cứu nền tảng của Lucas (1988), sau đó được phát triển bởi Rebelo (1991), Mankiw và cộng sự (1992). Nhánh này đã thúc đẩy sự phát triển các nghiên cứu về tài chính vi mô, và cũng chứng minh vấn đề: nếu người nghèo không được hỗ trợ để có thể tiếp cận vốn trên thị trường thì sẽ lại rơi vào vòng luẩn quẩn của nghèo đói. Bị giới hạn trong khả năng vay vốn, người nghèo khó có thể có khả năng sử dụng các dịch vụ khác nhau trong nền kinh tế (do không có tiền!), nên không thể đầu tư vào học hành hoặc kinh doanh (Morduch, 1999; Ledgerwood, 1998; Ledgerwood và cộng sự, 2013; Khúc Thế Anh, 2020).
Các nghiên cứu đã đề cao được vai trò của chính phủ trong việc thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế thông qua việc đầu tư trực tiếp hay gián tiếp vào giáo dục, đặc biệt là mảng tài chính vi mô và tài chính dành cho người nghèo. Vì vậy, điều cần thiết là cần có tín dụng chính sách cho khu vực dễ bị tổn thương (không chỉ dành cho nghèo đói, mà cả những đối tượng được cho là tinh hoa).