phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Điều chỉnh chính sách thƣơng mại quốc tế: Cơ sở lý luận chung và nhu cầu điều chỉnh đối với EU Chƣơng 2: Thực trạng điều chỉnh chính sách thƣơng mại quốc tế của Liên minh châu Âu Chƣơng 3: Ảnh hƣởng của điều chỉnh chính sách thƣơng mại quốc tế của EU tới Việt Nam 5 CHƢƠNG 1 ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VÀ NHU CẦU ĐIỀU CHỈNH ĐỐI VỚI EU 1. KHÁI NIỆM, VAI TRÕ CỦA CHÍNH SÁCH THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ TRONG BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN MỚI 1.Khái niệm, vai trò của chính sách thƣơng mại quốc tế Do sự phát triển kinh tế xã hội không đồng đều giữa các quốc gia nên khả năng và điều kiện tham gia vào thƣơng mại quốc tế của mỗi nƣớc là không giống nhau. Vì vậy, mỗi quốc gia khi gia nhập vào thị trƣờng thƣơng mại quốc tế chung ấy đều có những chính sách thƣơng mại quốc tế (hay còn gọi là chính sách ngoại thƣơng) phù hợp với mục tiêu và điều kiện phát triển của mình. Chính sách thƣơng mại quốc tế là một hệ thống các quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc và các công cụ, biện pháp thích hợp mà nhà nƣớc sử dụng để điều chỉnh các hoạt động thƣơng mại quốc tế của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định phù hợp với chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đó.96] Bản chất của chính sách ngoại thƣơng là thể hiện bản chất của chế độ xã hội và do chế độ xã hội quyết định.
Vì vậy, nó luôn đƣợc điều chỉnh một cách mềm dẻo để phù hợp với từng thời kỳ phát triển. Tuy nhiên, mặc dù đƣợc điều chỉnh liên tục nhƣ vậy nhƣng chính sách ngoại thƣơng vẫn luôn đảm bảo những vai trò sau: Thứ nhất: Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nƣớc thâm nhập và mở rộng thị trƣờng ra nƣớc ngoài, khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế trong nƣớc. Thứ hai: Bảo vệ thị trƣờng nội địa, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nƣớc đứng vững và vƣơn lên trong hoạt động kinh doanh, đáp ứng yêu cầu tăng cƣờng lợi ích quốc gia. Tóm lại, chính sách thƣơng mại quốc tế là một bộ phận trong chính sách kinh tế đối ngoại của một quốc gia.
Sở dĩ có thể nói nhƣ vậy là vì chính sách kinh tế đối 6 ngoại bao gồm: chính sách thƣơng mại quốc tế; chính sách đầu tƣ nƣớc ngoài; chính sách cán cân thanh toán quốc tế,…Chính sách kinh tế đối ngoại cùng với chính sách ngoại giao tạo thành chính sách đối ngoại của một quốc gia. Trên thực tế, tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế khác nhau mà mỗi quốc gia sẽ áp dụng một chính sách thƣơng mại quốc tế khác nhau. Song dù thế nào đi nữa, chúng cũng đều vận động theo những quy luật chung và chịu sự chi phối của hai xu hƣớng cơ bản đó là: xu hƣớng bảo hộ mậu dịch và xu hƣớng tự do hoá thƣơng mại. Hai xu hƣớng này đối nghịch nhau nhƣng chúng không bài trừ nhau mà hình thành nên một sự thống nhất giữa hai mặt đối lập.
Chúng cùng tồn tại song song và đƣợc sử dụng kết hợp với nhau ở những mức độ khác nhau trong từng lĩnh vực của hoạt động thƣơng mại quốc tế. a) Xu hướng bảo hộ mậu dịch Bảo hộ mậu dịch đƣợc hiểu là sự can thiệp của Nhà nƣớc hay Chính phủ vào lĩnh vực buôn bán quốc tế. Cơ sở khách quan của xu hƣớng này là sự phát triển không đều và sự khác biệt trong điều kiện tái sản xuất giữa các quốc gia; do sự chênh lệch về khả năng cạnh tranh giữa các công ty trong nƣớc với các công ty nƣớc ngoài cũng nhƣ do các nguyên nhân lịch sử để lại. Ngay từ khi hình thành nền thƣơng mại quốc tế, việc các quốc gia chỉ tập trung vào đẩy mạnh xuất khẩu nhằm thu về kim khí quý, trong khi đó lại hạn chế nhập khẩu để giảm bớt luồng di chuyển của kim khí ra nƣớc ngoài….đã đƣa đến yêu cầu về bảo hộ mậu dịch thông qua các công cụ hành chính và các biện pháp kỹ thuật khác nhau.
Mục tiêu của bảo hộ mậu dịch là nhằm bảo vệ thị trƣờng nội địa trƣớc sự xâm nhập ngày càng mạnh mẽ của hàng hoá nƣớc ngoài, cũng tức là bảo vệ lợi ích quốc gia. Hiện nay, có rất nhiều quan điểm và lý lẽ khác nhau về việc duy trì bảo hộ mậu dịch, cụ thể nhƣ sau: Một là, lý lẽ về bảo vệ “ngành công nghiệp non trẻ”. Theo lý lẽ này, những xí nghiệp “non trẻ” phải chịu chi phí ban đầu cao hơn và không thể cạnh tranh ngay trong một vài năm đầu tiên với các đối thủ nƣớc ngoài dày dạn kinh nghiệm. Một 7 chính sách tự do buôn bán có thể bóp chết các xí nghiệp non trẻ ngay từ khi chúng mới sinh ra.
Một hình thức thuế quan tạm thời đánh vào hàng nhập khẩu sẽ cho phép họ trƣởng thành cho tới độ “chín muồi” và đƣợc bảo vệ để chống lại sự cạnh tranh từ nƣớc ngoài. Hai là, lý lẽ tạo nên nguồn “tài chính công cộng”. Theo lý lẽ này, các loại thuế nhập khẩu là cần thiết để đảm bảo nguồn thu cho Chính phủ đáp ứng các chi phí trong việc cung cấp các hàng hoá công cộng, để tiến hành việc trả nợ và giải quyết các khoản chi phí khác. Ba là, lý lẽ về khắc phục một phần “tình trạng thất nghiệp” thông qua việc thực hiện chế độ thuế quan bảo hộ.
Theo lý lẽ này, các loại thuế nhập khẩu đánh vào các sản phẩm có thể thay thế nhập khẩu sẽ tạo điều kiện để mở rộng thêm việc sản xuất các loại sản phẩm ấy và tạo việc làm cho ngƣời lao động trong nƣớc.Vì khi ấy các hãng có thể trả cho ngƣời lao động mức lƣơng cao hơn. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, thuế nhập khẩu là một loại trợ cấp việc làm, song việc trợ cấp này chỉ diễn ra ở những ngành sản xuất hàng hoá có thể thay thế nhập khẩu, mặt khác trợ cấp này lại không chỉ riêng cho việc làm mà tƣơng đƣơng cho việc đánh thuế cả các yếu tố sản xuất khác nhƣ: đất đai, tiền vốn,…Vả lại, luôn tiềm ẩn nguy cơ bị các quốc gia khác có biện pháp trả đũa và gây nên tình trạng đi xa với nguyên tắc tự do buôn bán. Bốn là, lý lẽ về việc thực hiện “phân phối lại thu nhập” thông qua việc áp dụng chế độ bảo hộ. Theo lý lẽ này, các loại thuế nhập khẩu sẽ làm dịch chuyển một phần thu nhập của những ngƣời tiêu dùng giàu có sang cho những ngƣời sản xuất các loại hàng hoá đƣợc sản xuất trong nƣớc tƣơng ứng các hàng hoá nhập khẩu.
b) Xu hướng tự do hoá thương mại Tự do hoá thƣơng mại là sự nới lỏng, mềm hoá sự can thiệp của Nhà nƣớc hay Chính phủ vào lĩnh vực buôn bán quốc tế. Cơ sở khách quan của xu hƣớng này bắt nguồn từ quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới với những cấp độ toàn cầu hoá và khu vực hoá, lực lƣợng sản xuất phát triển vƣợt ra ngoài phạm vi biên giới của mỗi quốc gia, sự phân công lao 8 động quốc tế phát triển cả về bề rộng và bề sâu, vai trò của các công ty đa quốc gia đƣợc tăng cƣờng, hầu hết các quốc gia chuyển sang xây dựng mô hình “kinh tế mở” với việc khai thác ngày càng triệt để lợi thế so sánh của mỗi nƣớc. Tự do hoá thƣơng mại đều đem lại lợi ích cho mỗi quốc gia dù trình độ phát triển có khác nhau. Nội dung của tự do hoá thƣơng mại là Nhà nƣớc áp dụng các biện pháp cần thiết để từng bƣớc giảm thiểu những trở ngại trong hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan trong quan hệ mậu dịch quốc tế, nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc phát triển các hoạt động thƣơng mại quốc tế cả về bề rộng và bề sâu.
Việc các quốc gia tiến hành tự do hoá thƣơng mại không nằm ngoài mục tiêu là mở rộng thị trƣờng trong và ngoài nƣớc để hàng hoá, công nghệ nƣớc ngoài cũng nhƣ những hoạt động dịch vụ quốc tế đƣợc xâm nhập dễ dàng vào thị trƣờng nội địa, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ ra nƣớc ngoài. Các biện pháp hữu hiệu mà Nhà nƣớc dùng để thực hiện tự do hoá thƣơng mại bao gồm việc điều chỉnh theo chiều hƣớng nới lỏng dần nhập khẩu với bƣớc đi phù hợp trên cơ sở các thoả thuận song phƣơng và đa phƣơng giữa các quốc gia. Các công cụ và biện pháp chủ yếu của chính sách thƣơng mại quốc tế. Chính sách thƣơng mại của một quốc gia là tổng thể các biện pháp kinh tế hành chính do đó để bảo hộ nền thƣơng mại trong nƣớc hoặc thực hiện các mục tiêu xác định trong chính sách thƣơng mại quốc tế của mình, mỗi quốc gia sẽ lựa chọn cho mình những công cụ và biện pháp phù hợp nhất.
Tuy nhiên, trong các công cụ và biện pháp của chính sách ngoại thƣơng hầu hết các quốc gia đều chọn thuế quan và các biện pháp phi thuế quan làm công cụ mũi nhọn nhằm điều tiết cho các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ. Cụ thể nhƣ sau: 1. Các biện pháp thuế quan Thuế quan là một công cụ phổ biến nhất trong chính sách thƣơng mại quốc tế và là một phƣơng tiện truyền thống để làm tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nƣớc. Không những thế, thuế quan còn có vai trò quan trọng trong việc bảo hộ các ngành 9 công nghiệp non trẻ mới đƣợc hình thành, chƣa có khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng thế giới.
Tuy nhiên, để đẩy nhanh quá trình tự do hoá thƣơng mại, minh bạch hoá chính sách kinh tế thì việc cắt giảm thuế quan là điều cần thiết để hội nhập kinh tế quốc tế. Trong thực tiễn, có rất nhiều loại thuế và mức thuế suất khác nhau do đó tuỳ thuộc vào mục đích, yêu cầu quản lý của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ để lựa chọn các tiêu thức phù hợp. a) Căn cứ vào tính đặc thù của thuế quan thì thuế quan gồm có 5 loại: + Thuế đối kháng (trợ cấp xuất khẩu): là loại thuế đƣợc áp dụng khi hàng hoá nhập khẩu bị phát hiện là đƣợc nƣớc sản xuất trợ cấp. Trong trƣờng hợp nhƣ vậy, thuế đối kháng sẽ đƣợc sử dụng nhằm triệt tiêu phần trợ cấp nói trên để đảm bảo sự cạnh tranh công bằng.