Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Thúy Hằng (Khoa Kinh tế Ngoại thương, Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội, năm 2003, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Văn Hồng) được thực hiện trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đã trải qua hơn 15 năm thực hiện đường lối Đổi mới (bắt đầu từ năm 1986). Giai đoạn này đánh dấu bước chuyển mình quan trọng từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, hành chính bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước.
Theo tác giả, bối cảnh thực tiễn lúc bấy giờ đặt ra nhiều thuận lợi đan xen thách thức:
- Khắc phục giai đoạn hẫng hụt nghiêm trọng về nguồn viện trợ và sự đảo lộn thị trường ngoại thương do sự sụp đổ của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu.
- Nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng và siêu lạm phát, đạt tốc độ tăng trưởng khá nhanh và ổn định, nhưng cơ sở vật chất - kỹ thuật còn thấp kém, công nghiệp nhỏ bé, hạ tầng hạn chế, năng suất và hiệu quả chưa cao.
- Nhu cầu cấp thiết phải hội nhập kinh tế quốc tế và tham gia vào xu thế tự do hóa thương mại toàn cầu, giảm thiểu rủi ro tụt hậu kinh tế thông qua việc mở cửa thị trường, gỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được phân định cụ thể:
- Hệ thống hóa các cơ sở lý luận về chính sách thương mại quốc tế, vai trò điều tiết của Nhà nước đối với ngoại thương trong nền kinh tế thị trường và tính tất yếu của việc đổi mới chính sách thương mại.
- Phân tích quá trình chuyển đổi thể chế, chính sách thương mại của Việt Nam từ trước Đổi mới đến giai đoạn 1996–2003 (mở rộng quyền kinh doanh xuất nhập khẩu, cải cách hệ thống thuế quan, nới lỏng kiểm soát phi thuế quan và đa dạng hóa thị trường).
- Khảo cứu kinh nghiệm thực thi chính sách thương mại hướng về xuất khẩu của bốn nền kinh tế công nghiệp mới (NICs) Đông Á và Trung Quốc nhằm rút ra bài học đối chiếu.
- Đánh giá các tác động thực tế của đổi mới chính sách thương mại đối với hoạt động ngoại thương Việt Nam giai đoạn 1996–2003 trên cả bốn cấu phần: xuất khẩu hàng hóa, xuất khẩu lao động, xuất khẩu dịch vụ và nhập khẩu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống công cụ chính sách thương mại của Việt Nam và các biểu hiện cụ thể của hoạt động ngoại thương (kim ngạch, cơ cấu mặt hàng, cơ cấu thị trường, đối tượng tham gia).
- Phạm vi không gian: Hoạt động ngoại thương của Việt Nam trong mối quan hệ đa phương và song phương với các thị trường trọng điểm như ASEAN, EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc.
- Phạm vi thời gian: Trọng tâm là giai đoạn 1996 đến năm 2003 (thời điểm hoàn thành khóa luận), có đối chiếu lịch sử giai đoạn trước Đổi mới (1976–1985) và bước chuyển giao đoạn 1986–1995.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của công trình dựa trên lý thuyết kinh tế học thương mại quốc tế về quy luật cung cầu, giá cả, lợi thế so sánh và vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước nhằm hạn chế các khuyết tật thị trường (phân hóa giàu nghèo, thất nghiệp, mất cân đối hạ tầng). Hệ thống văn bản pháp quy và thể chế được trích dẫn làm cơ sở phân tích bao gồm:
- Hiến pháp năm 1980 (Điều 21 quy định về độc quyền Nhà nước đối với ngoại thương); Nghị định số 40/CP ngày 07/02/1980 của Hội đồng Chính phủ;
- Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khóa VII) về kinh tế đối ngoại;
- Nghị định số 33/CP ngày 19/04/1994 về quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu; Nghị định số 89/CP ngày 15/12/1995 bãi bỏ giấy phép từng chuyến;
- Luật Thương mại năm 1997 (Điều 5, Điều 17 quy định tư cách thương nhân); Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31/07/1998; Luật Doanh nghiệp năm 1999 và Nghị định số 03/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000;
- Quyết định số 746/QĐ-TTg ngày 24/08/1998 về thành lập quỹ thưởng xuất khẩu; Quyết định số 46/QĐ-TTg ngày 04/04/2001 về bãi bỏ các biện pháp hạn chế định lượng nhập khẩu;
- Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu các năm 1987, 1991, 1993 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 04/1998/QH ngày 20/05/1998;
- Khung cam kết quốc tế: Thỏa thuận Hiệp định thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT) trong khuôn khổ AFTA, các quy định cắt giảm thuế quan của APEC, thỏa thuận thương mại song phương với EU (1995) và Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA).
Phương pháp nghiên cứu trong khóa luận là phương pháp nghiên cứu kinh tế học mô tả và lịch sử - logic:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp văn bản pháp luật, chính sách kinh tế đối ngoại qua các thời kỳ;
- Phương pháp thống kê mô tả, phân tích số liệu chuỗi thời gian đối với kim ngạch xuất nhập khẩu, cơ cấu thị trường, cơ cấu nhóm hàng;
- Phương pháp so sánh đối chiếu kinh tế vĩ mô quốc tế (nghiên cứu trường hợp của Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore và Trung Quốc).
Nguồn dữ liệu tác giả sử dụng gồm: Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê (Niên giám 2001), Báo cáo chuyên đề của Bộ Thương mại, số liệu lưu trữ từ Cục Quản lý lao động ngoài nước (thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), Giáo trình Kinh tế ngoại thương (1997) và hệ thống dữ liệu kinh tế của Ngân hàng Thế giới (World Bank tables 1987).
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Một số vấn đề lý luận liên quan đến đổi mới chính sách thương mại của Việt Nam
Chương I tập trung làm rõ căn cứ lý luận, tính tất yếu và các trụ cột cấu thành chính sách thương mại của Việt Nam trong quá trình chuyển đổi, đồng thời phân tích kinh nghiệm quốc tế:
- Thực trạng chính sách ngoại thương giai đoạn trước Đổi mới (1976–1985): Nhà nước nắm giữ độc quyền tuyệt đối trên ba phương diện: độc quyền quản lý (thông qua Bộ Ngoại thương điều hành bằng chỉ tiêu pháp lệnh và giấy phép), độc quyền kinh doanh (số lượng đầu mối hạn chế: 12 doanh nghiệp Nhà nước năm 1981, 35 doanh nghiệp năm 1987) và độc quyền tài sản với cơ chế "thu bù chênh lệch ngoại thương". Hoạt động thương mại chủ yếu dựa vào các Nghị định thư với các nước xã hội chủ nghĩa. Xuất khẩu trong 10 năm chỉ bù đắp được 30,8% kim ngạch nhập khẩu; hàng xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm thô (năm 1985 có 63% là nông, lâm, thủy sản).
| Chỉ tiêu giai đoạn 1976–1985 |
Tỷ lệ / Quy mô ghi nhận trong văn bản |
| Tăng trưởng xuất khẩu bình quân (1976–1985) |
13,5%/năm |
| Tăng trưởng tổng kim ngạch XNK bình quân |
8,4%/năm |
| Tăng trưởng nhập khẩu bình quân |
7,0%/năm |
| Khả năng xuất khẩu bù đắp nhập khẩu |
30,8% |
| Tổng kim ngạch XNK năm 1976 |
1.004,1 triệu rúp - USD (Nhập siêu: -881,4 triệu) |
| Tổng kim ngạch XNK năm 1977 |
1.926,0 triệu rúp - USD |
| Nhập khẩu hàng thiết yếu (1976–1985) |
60 triệu mét vải; gần 1,5 triệu tấn lương thực quy gạo |
- Bốn nội dung cải cách cốt lõi của chính sách thương mại:
- Mở rộng quyền tham gia hoạt động xuất nhập khẩu: Bắt đầu từ Nghị định số 33/CP năm 1994 đặt điều kiện vốn lưu động 200.000 USD (hoặc 100.000 USD cho vùng khó khăn), tiến tới Nghị định số 57/1998/NĐ-CP và Luật Doanh nghiệp năm 1999 (triển khai qua Nghị định số 03/2000/NĐ-CP bãi bỏ thủ tục cấp giấy phép kinh doanh, chuyển sang cơ chế đăng ký kinh doanh và xóa bỏ 165 loại giấy phép kinh doanh).
- Đa dạng hóa thị trường và mặt hàng: Chuyển dịch từ việc phụ thuộc vào thị trường truyền thống khối SEV sang các nước châu Á, EU, Nhật Bản và Hoa Kỳ. Xác định hệ thống mặt hàng chủ lực (dầu thô, dệt may, thủy sản, gạo, cà phê, cao su, hạt điều, than đá, giày dép). Ban hành Quyết định số 746/QĐ-TTg lập quỹ thưởng xuất khẩu cho các doanh nghiệp đạt mức tăng trưởng trên 20%/năm hoặc kim ngạch xuất khẩu gia công trên 10 triệu USD dùng nguyên liệu nội địa từ 60% trở lên.
- Cải cách hệ thống thuế xuất nhập khẩu: Chuyển từ cơ chế 10 mức thuế xuất khẩu và 28 mức thuế nhập khẩu (năm 1979) sang áp dụng hệ thống phân loại điều hòa mã HS (mã 6 chữ số năm 1992 theo Quyết định số 172/TCTK-QĐ và mã 8 chữ số năm 1995 theo Quyết định số 324/TCTK-QĐ áp dụng từ ngày 01/01/1996). Luật sửa đổi số 04/1998/QH phân định rõ 3 loại thuế suất: ưu đãi (MFN), thông thường và ưu đãi đặc biệt, cùng cơ chế thuế bổ sung chống bán phá giá và trợ cấp. Số mức thuế suất giảm từ 38 mức (năm 1995) xuống còn 15 mức cơ bản (năm 2000); thuế suất tối đa giảm từ 200% xuống 60%. Triển khai lộ trình giảm thuế CEPT/AFTA theo bốn danh mục: IL (cắt giảm về 0–5% giai đoạn 2001–2003), TEL (chuyển sang IL từ 1999–2004 và về 0–5% năm 2006), SL (cắt giảm từ 2004 đến 2013) và GEL.
- Nới lỏng kiểm soát hành chính và biện pháp phi thuế quan: Nghị định số 89/CP (1995) bãi bỏ cấp giấy phép từng chuyến. Hạn ngạch giảm dần từ 24 mặt hàng năm 1989 xuống còn quản lý hạn ngạch đối với gạo và dệt may (năm 1994–1996). Đến Quyết định số 46/QĐ-TTg ngày 04/04/2001, các hạn chế định lượng đối với hàng nhập khẩu cơ bản bị xóa bỏ, trừ xăng dầu và một số nguyên liệu đến hết ngày 31/12/2002.
- Kinh nghiệm quốc tế của NICs Đông Á và Trung Quốc:
- Bốn nước NICs Đông Á (Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore): Áp dụng quy trình công nghiệp hóa qua 3 bước (thay thế nhập khẩu hàng tiêu dùng; xuất khẩu hàng tiêu dùng kết hợp thay thế nhập khẩu máy móc thiết bị; xuất khẩu sản phẩm hàm lượng kỹ thuật cao). Nhà nước dẫn dắt bằng chính sách vĩ mô nhưng dùng kế hoạch mang tính định hướng.
| Nền kinh tế |
Tăng trưởng GDP 60–73 (%) |
Tăng trưởng GDP 80–86 (%) |
Tỷ lệ XK/GDP 60–73 (%) |
Tỷ lệ XK/GDP 80–86 (%) |
Tỷ trọng hàng chế tạo/XK 80–86 (%) |
| Hồng Kông |
9,62 |
6,94 |
58,28 |
75,01 |
90,82 |
| Hàn Quốc |
8,42 |
6,70 |
8,10 |
33,04 |
53,15 |
| Đài Loan |
10,41 |
6,91 |
23,00 |
55,53 |
68,88 |
| Singapore |
10,42 |
6,00 |
259,51 |
159,96 |
53,15 |
- Trung Quốc: Tiến hành phân quyền ngoại thương (từ 800 công ty ngoại thương năm 1980 tăng lên trên 5.000 công ty); ban hành Đạo luật Ngoại thương năm 1994; phân loại cơ cấu hàng xuất khẩu thành 4 loại theo 3 giai đoạn; hạ mức thuế quan trung bình từ 43% (năm 1992) xuống 17% (tháng 10/1997) và hướng tới 15% năm 2000; thống nhất tỷ giá thả nổi có sự quản lý từ tháng 01/1994 và thành lập các đặc khu kinh tế.
- Bài học cho Việt Nam: Tự do hóa từng bước, đơn giản hóa biểu thuế quan, phối hợp linh hoạt tỷ giá, hoàn thiện khuôn khổ pháp luật thương mại quốc tế.
Chương II: Tác động của đổi mới chính sách thương mại đến hoạt động ngoại thương Việt Nam trong những năm gần đây
Chương II phân tích các kết quả thực tế của hoạt động xuất nhập khẩu giai đoạn từ năm 1996 đến 9 tháng đầu năm 2003 dưới sự điều tiết của chính sách mới:
- Tăng trưởng kinh tế vĩ mô và kim ngạch xuất nhập khẩu: Tăng trưởng GDP bình quân đạt 7–8%/năm; năm 2003 theo Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đạt tăng trưởng 7% (thuộc nhóm cao nhất thế giới sau Trung Quốc). Lạm phát giảm từ 4,5% (năm 1996) xuống -1,7% (năm 2000). Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu bình quân giai đoạn 1996–2002 đạt 15,03%. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 1996 đạt 6.300 triệu USD; đến 9 tháng đầu năm 2003 đã ghi nhận con số 29.982 triệu USD (trong đó xuất khẩu 9 tháng đạt trên 14,9 tỷ USD, tăng 25% so với cùng kỳ 2002).
- Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu: Nhóm nguyên liệu thô giảm từ 91% (năm 1994) xuống 72% (năm 1998). Nhóm hàng chế biến sâu và chế tạo tăng từ 8,5% (năm 1994) lên 25% (năm 1997), đạt 30% (năm 1999), 50% (năm 2000) và 55% (năm 2001). Tỷ trọng nông, lâm, thủy sản giảm từ 46,3% (năm 1995) xuống 30,1% (năm 2000), trong khi nhóm công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tăng lên 34,3%.
- Gạo: Từ năm 1989 đến ngày 16/10/2003, Việt Nam xuất khẩu lũy kế 40 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 8 tỷ USD, chiếm 11–16% thị phần thế giới.
- Số liệu 9 tháng đầu năm 2003: Dầu thô đạt 2,8 tỷ USD (+23,7%); dệt may đạt trên 2,9 tỷ USD (+53,1%, đóng góp 34% vào mức tăng chung); giày dép tăng 24,4%; cà phê tăng 57,5% (dù lượng xuất khẩu giảm 7,8%); sản phẩm gỗ tăng 38,6%; dây điện và cáp điện tăng 57,7%.
- Chuyển dịch cơ cấu thị trường xuất khẩu: Tỷ trọng xuất khẩu sang châu Á giảm dần nhằm giảm thiểu phụ thuộc: từ 70,9% (năm 1996) xuống 63,8% (năm 1997), 61,3% (năm 1998), 55,1% (năm 1999) và đạt 57,2% (năm 2000). Xuất khẩu sang châu Âu tăng từ 15,4% (năm 1996) lên 28,1% (năm 1999) và 24,5% (năm 2000). Xuất khẩu sang Hoa Kỳ tăng mạnh sau khi bình thường hóa và ký BTA: từ 273 triệu USD (năm 1997) lên 388,189 triệu USD (năm 2000), 553,408 triệu USD (năm 2001) và đạt 2.394 triệu USD (năm 2002).
- Xuất khẩu lao động: Số lượng lao động tăng từ 1.022 người (năm 1991) lên 12.496 người (năm 1996), 12.000 người (năm 1998) và 37.000 người (năm 2001). Bình quân giai đoạn 1996–2000 mỗi năm đưa khoảng 2 vạn lao động đi nước ngoài. Đến tháng 08/2003, lũy kế có gần 200.000 lao động đi làm việc tại gần 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, thu nhập ròng khoảng 350 USD/tháng, mang lại hơn 1,47 tỷ USD kiều hối, đồng thời tiết kiệm cho ngân sách Nhà nước khoảng 800 tỷ đồng chi phí đầu tư tạo việc làm trong nước (tính theo định mức 5 triệu đồng/chỗ làm việc mới). Hoạt động này có sự tham gia của 160 doanh nghiệp được cấp phép; giai đoạn 1999–01/2002 có 10 doanh nghiệp dẫn đầu đưa được 13.392 lao động (điển hình: Viettracimex đưa 6.854 người, Traenco đưa 3.032 người, LOD đưa 1.522 người, Vinaconex đưa 1.386 người, Tracimexco đưa 1.366 người).
- Xuất khẩu dịch vụ: Khách quốc tế đến Việt Nam tăng từ 250 nghìn lượt (năm 1991) lên 2 triệu lượt (năm 2000) với doanh thu du lịch đạt 450 triệu USD. Năm 2003, thương mại dịch vụ hai chiều ước đạt 3,2 tỷ USD (xuất khẩu đạt 2,0 tỷ USD, nhập khẩu đạt 1,2 tỷ USD).
- Đặc điểm hoạt động nhập khẩu: Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu diễn biến qua các năm: năm 1997 tăng 14,67%; năm 1998 tăng 44,44%; năm 1999 tăng 71,45%; năm 2000 tăng 5,37%; năm 2001 giảm 0,05%; năm 2002 tăng 23,4%; 9 tháng đầu năm 2003 đạt gần 18 tỷ USD (+29,9%). Tỷ trọng hàng tư liệu sản xuất và nguyên vật liệu phục vụ sản xuất chiếm tỷ trọng chi phối, đạt 93,7% kim ngạch nhập khẩu trong 9 tháng đầu năm 2003:
- Sắt thép: Năm 1997 nhập 700 nghìn tấn thép và 500 nghìn tấn phôi thép; năm 1998 nhập 1.900 nghìn tấn; năm 1999 nhập 2.800 nghìn tấn; năm 2000 nhập 2.700 nghìn tấn; năm 2001 nhập 2.867 nghìn tấn; năm 2002 nhập 4.975 nghìn tấn; 9 tháng đầu năm 2003 đạt 3.137 nghìn tấn.
- Xăng dầu: Năm 1996 nhập 5.700 nghìn tấn; năm 1997 nhập 6.600 nghìn tấn; năm 1998 nhập 7.300 nghìn tấn; năm 1999 nhập 7.400 nghìn tấn; năm 2000 nhập 8.600 nghìn tấn; năm 2001 nhập 8.777 nghìn tấn; năm 2002 nhập 9.864 nghìn tấn; 9 tháng đầu năm 2003 đạt 6.724 nghìn tấn.
- Phân bón urê: Nhập khẩu duy trì từ 1.467 nghìn tấn (năm 1996) tăng lên 2.023 nghìn tấn (năm 2000).
- Xi măng: Năm 1997 nhập 850 nghìn tấn, năm 2000 khoảng 1.463 nghìn tấn.
- Hàng tiêu dùng thiết yếu: Tỷ trọng trong tổng kim ngạch nhập khẩu giảm liên tục từ 10,7% trị giá 1.200 triệu USD (năm 1996) xuống còn 9% (năm 1997), 6% (năm 1998), 4% (năm 2000) và 5,9% (năm 2001).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đưa ra các kết quả nghiên cứu cụ thể gắn với dữ liệu thực chứng của nền kinh tế Việt Nam:
- Ghi nhận sự chuyển đổi thể chế kinh tế đối ngoại mang tính bước ngoặt: xóa bỏ hoàn toàn cơ chế độc quyền ngoại thương của Nhà nước theo Hiến pháp 1980, chuyển sang quyền tự do kinh doanh xuất nhập khẩu theo đăng ký kinh doanh của Luật Doanh nghiệp năm 1999 và Nghị định số 03/2000/NĐ-CP, tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tham gia.
- Xác định sự thay đổi cơ cấu kinh tế đối ngoại: xuất khẩu tăng trưởng bình quân 15,03%/năm (1996–2002); tỷ trọng hàng nguyên liệu thô giảm từ 91% xuống 72%, trong khi hàng chế biến sâu đạt 55% năm 2001; tỷ trọng nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc phục vụ sản xuất chiếm trên 93% năm 2003, trong khi hàng tiêu dùng giảm xuống dưới 6%.
- Tổng kết thành tựu xuất khẩu lao động với gần 200.000 lao động ngoài nước tính đến tháng 08/2003, thu về trên 1,47 tỷ USD và giảm áp lực ngân sách 800 tỷ đồng vốn đầu tư việc làm.
Các kiến nghị tác giả đề xuất dựa trên kinh nghiệm quốc tế:
- Điều chỉnh lộ trình tự do hóa thương mại phù hợp với năng lực cạnh tranh trong nước;
- Đơn giản hóa hơn nữa biểu thuế xuất nhập khẩu, tiến tới bãi bỏ thuế xuất khẩu nhằm hỗ trợ sản phẩm trong nước và giảm dần thuế nhập khẩu theo các cam kết CEPT/AFTA;
- Vận dụng linh hoạt các công cụ tỷ giá, chính sách tín dụng ưu đãi, xúc tiến thương mại và xây dựng hệ thống thông tin thương mại hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận các thị trường không hạn ngạch.
Đóng góp của khóa luận:
- Cung cấp bức tranh toàn diện về quá trình chuyển đổi thể chế thương mại Việt Nam trong giai đoạn bản lề (1996–2003), làm rõ sự tương tác giữa chính sách mở cửa với sự gia tăng quy mô và cơ cấu ngoại thương.
- Tổng hợp hệ thống số liệu kinh tế đối ngoại chi tiết, phản ánh cả 4 mảng hoạt động (xuất khẩu hàng hóa, xuất khẩu dịch vụ, xuất khẩu lao động, nhập khẩu tư liệu sản xuất).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của văn bản:
- Dữ liệu của năm 2003 trong khóa luận mới dừng lại ở con số thống kê hoặc ước tính của 9 tháng đầu năm (do khóa luận bảo vệ trong năm 2003), chưa phản ánh trọn vẹn kết quả cả năm 2003.
- Dữ liệu về thương mại dịch vụ còn mang tính ước tính sơ bộ (3,2 tỷ USD năm 2003) do cơ chế thống kê quốc gia thời kỳ đó chưa thiết lập hệ thống thu thập số liệu dịch vụ chuyên biệt và đồng bộ.
- Phần trích lục văn bản dừng lại ở bảng thống kê danh mục mặt hàng nhập khẩu tại trang 50 (thuộc Chương II), không bao gồm toàn bộ nội dung của Chương III (phần giải pháp chi tiết của tác giả).
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Đánh giá toàn diện tác động dài hạn của việc cắt giảm thuế quan theo chương trình CEPT/AFTA trong các giai đoạn tiếp theo (2004–2006 đối với danh mục TEL và 2004–2013 đối với danh mục SL).
- Nghiên cứu tác động của Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) sau năm 2003 khi hạn ngạch dệt may và các rào cản kỹ thuật bắt đầu phát sinh ảnh hưởng rõ nét.
- Phân tích sâu hơn tác động của chính sách mở cửa thương mại đối với năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tư nhân trong bối cảnh chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Giá trị tham khảo
Tài liệu này hữu ích đối với:
- Giảng viên, sinh viên và học viên chuyên ngành Kinh tế đối ngoại, Kinh tế quốc tế, Thương mại quốc tế làm tài liệu nghiên cứu lịch sử chính sách kinh tế đối ngoại Việt Nam thời kỳ chuyển đổi (1986–2003).
- Các nhà nghiên cứu chính sách muốn tìm hiểu quá trình chuyển đổi công cụ quản lý nhà nước từ phi thuế quan (hạn ngạch, giấy phép con) sang quản lý bằng thuế quan và cơ chế thị trường.
- Các nhà phân tích kinh tế cần chuỗi dữ liệu lịch sử về kim ngạch, chủng loại hàng hóa nhập khẩu thiết yếu (sắt thép, xăng dầu, phân bón) và số liệu xuất khẩu lao động thời kỳ đầu hội nhập.
Các phần đáng tham khảo nhất trong công trình:
- Toàn bộ quá trình pháp điển hóa quyền kinh doanh xuất nhập khẩu (từ Nghị định 40/CP, Nghị định 33/CP đến Nghị định 57/CP và Luật Doanh nghiệp năm 1999).
- Bảng tổng hợp số liệu xuất nhập khẩu thời kỳ 1976–1985 và giai đoạn 1996–2002.
- Mô hình so sánh cơ cấu xuất khẩu và lộ trình công nghiệp hóa của 4 nền kinh tế NICs Đông Á và Trung Quốc.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận phân chia sự khác biệt về quyền kinh doanh xuất nhập khẩu giữa Nghị định số 33/CP (1994) và Nghị định số 57/1998/NĐ-CP như thế nào?
Nghị định số 33/CP (1994) chỉ cho phép các doanh nghiệp có vốn lưu động tối thiểu tương đương 200.000 USD (hoặc 100.000 USD đối với vùng núi, khó khăn) và có cán bộ đủ trình độ mới được Bộ Thương mại cấp giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu. Đến Nghị định số 57/1998/NĐ-CP (hướng dẫn Luật Thương mại 1997), rào cản này được dỡ bỏ: thương nhân chỉ cần có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là được quyền xuất nhập khẩu hàng hóa theo ngành nghề đăng ký mà không phải xin giấy phép xuất nhập khẩu tại Bộ Thương mại.
2. Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam chuyển biến ra sao trong giai đoạn 1994–2001 theo các số liệu được công bố?
Tỷ trọng hàng nguyên liệu thô giảm từ 91% (năm 1994) xuống còn 72% (năm 1998). Nhóm hàng chế biến sâu (bao gồm hàng chế tạo) tăng liên tục: từ 8,5% (năm 1994) lên 25% (năm 1997), 30% (năm 1999), 50% (năm 2000) và đạt 55% (năm 2001). Cơ cấu theo ngành chuyển dịch từ nông, lâm, thủy sản (giảm từ 46,3% năm 1995 xuống 30,1% năm 2000) sang công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp (tăng lên 34,3% năm 2000).
3. Hoạt động xuất khẩu lao động đóng góp những kết quả cụ thể nào cho nền kinh tế Việt Nam tính đến tháng 08/2003?
Tính đến tháng 08/2003, Việt Nam đã đưa được gần 200.000 lao động đi làm việc tại gần 40 quốc gia và vùng lãnh thổ với mức thu nhập ròng khoảng 350 USD/tháng, mang về hơn 1,47 tỷ USD ngoại tệ. Hoạt động này cũng giúp tiết kiệm cho ngân sách khoảng 800 tỷ đồng chi phí tạo việc làm mới trong nước (ước tính bình quân 5 triệu đồng/chỗ làm việc).
4. Lộ trình cắt giảm thuế quan theo chương trình CEPT/AFTA của Việt Nam được quy định theo các danh mục nào?
Chương trình CEPT gồm 4 danh mục: Danh mục giảm thuế (IL - giảm về 0–5% từ 2001 đến 2003), Danh mục loại trừ tạm thời (TEL - chuyển sang IL giai đoạn 1999–2004 với tốc độ 20%/năm và về 0–5% vào năm 2006), Danh mục nhạy cảm (SL - bắt đầu cắt giảm từ 01/01/2004 và kết thúc ở mức 0–5% vào năm 2013) và Danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL). Tính đến năm 2000, Việt Nam đã đưa khoảng 4.200 dòng thuế vào diện cắt giảm theo CEPT/AFTA.
5. Tác giả đã rút ra những bài học kinh nghiệm gì từ cải cách thương mại của Trung Quốc?
Các bài học gồm: phân quyền giao dịch ngoại thương (từ 800 công ty ban đầu tăng lên hơn 5.000 công ty); chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu qua 3 giai đoạn (từ sản phẩm thô sang công nghiệp nhẹ thâm dụng lao động, công nghiệp nặng sử dụng nhiều vốn và cuối cùng là sản phẩm kỹ thuật cao); giảm thuế quan trung bình từ 43% xuống 17%; áp dụng tỷ giá thả nổi có quản lý từ năm 1994; và thành lập các đặc khu kinh tế để thu hút đầu tư gắn với sản xuất hàng xuất khẩu.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Thúy Hằng là công trình nghiên cứu kinh tế đối ngoại có hệ thống, phản ánh sát thực tế tiến trình đổi mới thể chế và chính sách thương mại của Việt Nam từ cơ chế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường trong giai đoạn 1986–2003. Thông qua việc kết hợp cơ sở lý luận, dữ liệu thống kê ngoại thương phong phú và bài học kinh nghiệm quốc tế từ NICs Đông Á và Trung Quốc, công trình đã làm sáng tỏ những chuyển biến căn bản về quy mô kim ngạch, cơ cấu mặt hàng và thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam. Đây là tài liệu học thuật có giá trị tư liệu lịch sử quan trọng, giúp người đọc nắm bắt được bước chuyển bản lề của ngoại thương Việt Nam trước thềm hội nhập kinh tế toàn cầu.