Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Những biến động nhân khẩu học, đặc biệt là xu hướng già hóa dân số do tỷ lệ sinh giảm, tỷ lệ tử vong giảm và tuổi thọ trung bình tăng lên, đang đặt ra thách thức đối với tính bền vững tài chính dài hạn của hệ thống an sinh xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đối với hệ thống hưu trí vận hành theo cơ chế thực thanh thực chi (PAYG) với mức hưởng xác định (DB) như tại Việt Nam, xu hướng già hóa dân số làm gia tăng áp lực chi trả lương hưu và trợ cấp, dẫn đến nguy cơ mất cân đối thu - chi quỹ bảo hiểm xã hội trong tương lai gần.
Nhằm thích ứng với bối cảnh già hóa và bảo đảm cân đối tài chính quỹ, Điều 169 Bộ luật Lao động năm 2019 của Việt Nam đã quy định lộ trình điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện bình thường cho đến khi đủ 62 tuổi đối với nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với nữ vào năm 2035. Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu được thực hiện từ đủ 60 tuổi 03 tháng đối với nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với nữ, sau đó mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với nam và 04 tháng đối với nữ.
Mặc dù chính sách đã ban hành, các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận vấn đề ở góc độ định tính, đánh giá tổng quan chính sách hoặc sử dụng các mô hình dự báo với giả định đơn giản hóa, chưa phản ánh đầy đủ tác động theo lộ trình cụ thể của Bộ luật Lao động năm 2019 cũng như chưa phân tách chi tiết tác động đa chiều tới cả nguồn thu, nguồn chi và thị trường lao động. Luận án "Tác động của chính sách tăng tuổi nghỉ hưu đến cân đối Quỹ Hưu trí và Tử tuất ở Việt Nam" được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống này, cung cấp luận cứ khoa học thực chứng phục vụ quá trình cải cách chính sách an sinh xã hội theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23 tháng 5 năm 2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Đo lường tác động của chính sách tăng tuổi nghỉ hưu đến cân đối Quỹ Hưu trí và Tử tuất (HT&TT) ở Việt Nam, qua đó xác định vai trò và sự cần thiết của chính sách điều chỉnh tuổi nghỉ hưu; đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng cân đối Quỹ HT&TT.
- Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích và đo lường tác động của chính sách tăng tuổi nghỉ hưu đến hoạt động thu Quỹ HT&TT.
- Phân tích và đo lường tác động của chính sách tăng tuổi nghỉ hưu đến hoạt động chi Quỹ HT&TT.
- Phân tích và đo lường tác động của chính sách tăng tuổi nghỉ hưu đến cân đối Quỹ HT&TT.
- Đánh giá việc thực hiện chính sách tăng tuổi nghỉ hưu của Việt Nam và khuyến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, bảo đảm tính bền vững lâu dài của hệ thống hưu trí.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
- Cơ sở lý luận, thực trạng chính sách và việc tổ chức thực hiện chính sách hưu trí và tử tuất trong hệ thống bảo hiểm xã hội (BHXH) ở Việt Nam.
- Tác động của chính sách tăng tuổi nghỉ hưu đến hoạt động thu, hoạt động chi và cân đối Quỹ HT&TT.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Nghiên cứu thực hiện trên phạm vi toàn quốc tại Việt Nam.
- Thời gian: Giai đoạn thu thập số liệu thực tế từ năm 1995 đến năm 2021; giai đoạn dự báo tài chính kéo dài đến năm 2069.
- Nội dung: Luận án tập trung vào các quy định pháp luật về BHXH, chế độ hưu trí; số liệu dân số, tuổi thọ và lực lượng lao động; thực trạng thu - chi và quản lý Quỹ HT&TT. Luận án giới hạn phạm vi phân tích đối với nhóm đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, không nghiên cứu nhóm tham gia BHXH tự nguyện.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Các công trình nghiên cứu trên thế giới về tuổi nghỉ hưu và cân đối quỹ hưu trí tập trung vào bốn nhóm chủ đề chính:
- Mối quan hệ giữa sự chậm trễ tăng tuổi nghỉ hưu và mất cân đối tài khóa: Hagemann và Nicoletti (1989), Dang và cộng sự (2001), OECD (2005) ghi nhận các nước OECD đối mặt với sự suy giảm tiết kiệm, đầu tư và tăng chi tiêu công khi già hóa dân số kết hợp với hệ thống PAYG. Friedman và cộng sự (1996), Heller (1997, 1998), UNESCAP (2005) chỉ ra nguy cơ thâm hụt tài chính của các hệ thống PAYG tại các nền kinh tế đang phát triển ở Đông Á. Krzysztof Makarski và Joanna Tyrowicz (2018) chứng minh rằng trong hệ thống DB, việc trì hoãn tuổi nghỉ hưu giúp giảm mất cân bằng tài khóa, đồng thời chỉ ra cải cách tham số bổ sung cho cải cách hệ thống. Rose Irnawaty Ibrahim và Zailan Siri (2013) sử dụng phương pháp nhóm kín (closed-group) với dữ liệu công chức Malaysia (1991 - 2000) để ước tính chi phí vốn hóa, chỉ ra việc tăng tuổi nghỉ hưu từ 55 lên 60 giúp giảm nợ lương hưu của chính phủ.
- Tác động của tăng tuổi nghỉ hưu đến việc làm và tiền lương: Pedro S. Martins và cộng sự (2009) áp dụng phương pháp khác biệt trong khác biệt (Difference-in-Differences) để đánh giá việc Bồ Đào Nha tăng tuổi nghỉ hưu của nữ từ 62 lên 65 tuổi vào năm 1994, kết luận rằng tiền lương và giờ làm việc của phụ nữ lớn tuổi hầu như không đổi, nhưng các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ lớn tuổi đã giảm tuyển dụng lao động nữ trẻ. Ngược lại, René Böheim (2014) và Munnell và April Yanyuan Wu (2012) tại Mỹ và Trung Quốc khẳng định việc tăng việc làm của người lớn tuổi không làm suy giảm cơ hội việc làm hay giảm tiền lương của lao động trẻ, cho thấy hai nhóm tuổi mang tính bổ sung thay vì thay thế. Adriaan Kalwij và cộng sự (2010) cũng tìm thấy mối quan hệ bổ sung nhỏ giữa việc làm của người cao tuổi và thanh niên.
- Khoảng cách giữa tuổi nghỉ hưu luật định và tuổi nghỉ hưu thực tế: Kevin Davis (2013) phân tích hiện tượng "không nghỉ hưu" (quay trở lại thị trường lao động) tại Úc (khoảng 10%). Jukka Lassila và cộng sự (2014) đánh giá việc điều chỉnh tuổi nghỉ hưu theo tuổi thọ tại Phần Lan. Stefan Staubli và Josef Zweimüller (2013) phân tích hai cuộc cải cách tăng tuổi nghỉ hưu sớm (ERA) ở Áo, cho thấy cải cách làm tăng tỷ lệ việc làm của nam giới thêm 9,75 điểm phần trăm và nữ giới 11 điểm phần trăm, nhưng đồng thời làm tăng tỷ lệ thất nghiệp thêm 12,5 điểm phần trăm ở nam và 11,8 điểm phần trăm ở nữ, tạo ra tác động lan tỏa sang chương trình bảo hiểm thất nghiệp và tàn tật; mỗi năm tăng tuổi nghỉ hưu làm giảm chi tiêu ròng của chính phủ 107 triệu euro đối với nam và 122 triệu euro đối với nữ.
- Tác động tài chính tổng thể và điều kiện hiệu quả: Philip O’Keefe (2013) và Richard Hinz và cộng sự (2013) tổng kết các xu hướng cải cách hưu trí của khối OECD và các nước đang phát triển. Lee (2003) nhấn mạnh việc tăng tuổi nghỉ hưu chỉ có tác động tài chính tích cực đáng kể khi độ bao phủ BHXH ở mức cao. Ichino (2007) chỉ ra chính sách chỉ cân bằng được quỹ nếu tỷ lệ có việc làm của lao động gần tuổi nghỉ hưu không bị suy giảm. Autor và Duggan (2006) cùng Wise (2012) cảnh báo việc tăng tuổi nghỉ hưu có thể chuyển gánh nặng chi phí sang các quỹ bảo hiểm thất nghiệp hoặc thương tật.
Các hướng nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, các nghiên cứu tập trung vào các nội dung:
- Cảnh báo nguy cơ mất cân đối quỹ hưu trí do già hóa dân số: Giang Thanh Long (2004, 2005) dự báo tác động của già hóa dân số đến hệ thống hưu trí PAYG DB tại Việt Nam và tính toán quy mô nợ lương hưu theo các kịch bản kinh tế. Giang Thanh Long (2008) sử dụng mô hình tính toán thống kê chỉ ra rằng theo hiện trạng, quỹ hưu trí Việt Nam có nguy cơ cạn kiệt vào khoảng năm 2052 (với khoảng tin cậy 90% là 8 năm); trong đó tuổi nghỉ hưu, tham số tính lương hưu và tỷ lệ đóng là các yếu tố quyết định. Giang Thanh Long (2018) tiếp tục mô phỏng tài chính quỹ nhưng chỉ giới hạn nguồn thu từ đóng góp và đầu tư, nguồn chi cho hưu trí, tử tuất và hành chính.
- Đề xuất điều chỉnh tuổi nghỉ hưu: Giang Thanh Long và Pfau (2009) khẳng định nâng tuổi nghỉ hưu là giải pháp trực tiếp giúp cải thiện khả năng thanh toán của hệ thống. Phạm Trường Giang (2013) đo lường thể lực, khả năng lao động của người trên 55 tuổi (nữ) và 60 tuổi (nam) để kiến nghị điều chỉnh tuổi nghỉ hưu theo ngành nghề, đặc thù công việc. Nguyễn Thị Tuệ Anh (2013) đề xuất các giải pháp cải cách tham số như dùng tiền lương thực tế làm căn cứ đóng, thống nhất công thức tính hưởng và tăng tuổi nghỉ hưu.
- Đo lường tác động thị trường lao động và cân đối tài chính: Nguyễn Thị Lan Hương (2013) áp dụng phương pháp dự báo thành phần kết hợp số liệu điều tra doanh nghiệp năm 2012; kết quả cho thấy nếu không tăng tuổi nghỉ hưu, Quỹ BHXH sẽ thu bằng chi vào năm 2020 và thâm hụt vào năm 2039; nếu tăng tuổi nghỉ hưu theo lộ trình sẽ kéo dài thời gian cân đối đến năm 2044.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây chủ yếu đưa ra nhận định tổng quan, chưa đánh giá gắn với thiết chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Đồng thời, chưa có công trình nào đánh giá thực chứng tác động tài chính của lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 (áp dụng từ năm 2021) dựa trên dữ liệu thống kê cập nhật đến năm 2021 và xây dựng dự báo dài hạn đến năm 2069 cho riêng nhóm BHXH bắt buộc.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Quỹ Hưu trí và Tử tuất (HT&TT): Là quỹ tài chính tập trung, độc lập với ngân sách nhà nước, được hình thành từ đóng góp của người lao động (NLĐ), người sử dụng lao động (NSDLĐ) và sinh lời từ hoạt động đầu tư tài chính, được Nhà nước bảo hộ để chi trả hai chế độ dài hạn là hưu trí và tử tuất.
- Cơ chế tài chính PAYG DB: Hệ thống hưu trí vận hành theo cơ chế thực thanh thực chi (Pay-as-you-go - PAYG), nguồn đóng góp của thế hệ lao động hiện tại được dùng để chi trả cho người đang hưởng lương hưu; chế độ hưởng là mức hưởng xác định (Defined Benefit - DB) căn cứ vào thời gian đóng và mức tiền lương đóng BHXH.
- Tuổi nghỉ hưu theo luật định (LRA) và Tuổi nghỉ hưu thực tế (ARA): LRA là độ tuổi do pháp luật quy định để phát sinh quyền hưởng lương hưu; ARA là thời điểm cá nhân thực tế rời khỏi thị trường lao động.
Công thức và mô hình dòng tiền Quỹ HT&TT
Dòng tiền và cân bằng tích lũy của Quỹ HT&TT tại năm $t$ được xác định theo phương trình:
$$TR_t = TR_{t-1} \cdot (1 + r_t) + (I_t - E_t)$$
Trong đó:
- $TR_t, TR_{t-1}$: Tổng tích lũy Quỹ HT&TT cuối năm $t$ và cuối năm $t-1$.
- $r_t$: Lãi suất sinh lời bình quân từ hoạt động đầu tư quỹ trong năm $t$.
- $I_t$: Tổng nguồn thu vào Quỹ HT&TT trong năm $t$.
- $E_t$: Tổng các khoản chi từ Quỹ HT&TT trong năm $t$.
Nguồn thu từ đóng góp của người tham gia theo nhóm tuổi ($i$), giới tính ($s$) và khu vực kinh tế ($w$) tại năm $t$:
$$I_{i,t,s} = Aw_{i,t,s,w} \cdot k_{t,s,w} \cdot P_{i,t,s,w}$$
Trong đó:
- $P_{i,t,s,w}$: Số người đóng BHXH năm $t$.
- $Aw_{i,t,s,w}$: Tiền lương trung bình làm căn cứ đóng BHXH.
- $k_{t,s,w}$: Tỷ lệ đóng góp vào Quỹ HT&TT theo quy định.
Khoản chi trả chế độ hưu trí và tử tuất theo nhóm tuổi ($i$), giới tính ($s$), khu vực ($w$) và loại hình hưởng ($p$) tại năm $t$:
$$E_{i,t,s,w} = Aw_{i,t,s,w,p} \cdot P_{i,t,s,w,p}$$
Trong đó:
- $P_{i,t,s,w,p}$: Số người hưởng chế độ BHXH năm $t$.
- $Aw_{i,t,s,w,p}$: Mức lương hưu hoặc trợ cấp bình quân chi trả trong năm $t$.
Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu định tính: Tổng hợp kinh nghiệm quốc tế từ nhóm OECD và các quốc gia châu Á về lộ trình điều chỉnh tuổi nghỉ hưu; thực hiện phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm với đại diện NLĐ và NSDLĐ nhằm phân tích tâm lý, hành vi, khả năng tiếp tục làm việc và các ưu - nhược điểm của lao động cao tuổi.
- Nghiên cứu định lượng:
- Ứng dụng phần mềm Stata để ghép nối, làm sạch và xử lý các tập dữ liệu vi mô.
- Sử dụng mô hình định phí tài chính quỹ hưu trí chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Ngân hàng Thế giới (WB) được thiết lập trên bảng tính Excel nhằm mô phỏng các luồng thu - chi và kết dư Quỹ HT&TT giai đoạn 2022 - 2069.
- Xây dựng mô hình kinh tế lượng ước lượng tác động của chính sách tăng tuổi nghỉ hưu đến tỷ lệ thất nghiệp và việc làm của thị trường lao động.
Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu
- Dữ liệu dân số: Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam các năm 1999, 2009 và 2019 do Tổng cục Thống kê (GSO) thực hiện; dự báo dân số đến năm 2069.
- Dữ liệu lao động - việc làm: Điều tra Lao động Việc làm (LFS) thường niên giai đoạn 2016 - 2020 của Tổng cục Thống kê.
- Dữ liệu mức sống: Khảo sát Mức sống Dân cư Việt Nam (VHLSS) các năm 2018 và 2020 (ghép nối các tệp thông tin chung, nhân khẩu học, giáo dục và việc làm).
- Dữ liệu nghiệp vụ bảo hiểm xã hội: Số liệu thống kê chi tiết về đối tượng tham gia, thu nộp, chi trả trợ cấp, chi phí quản lý và số dư đầu tư Quỹ HT&TT giai đoạn 1995 - 2021 do Bảo hiểm xã hội Việt Nam (VSS) cung cấp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu tác động của chính sách tăng tuổi nghỉ hưu đến cân đối Quỹ Hưu trí và Tử tuất
Chương này hệ thống hóa các nghiên cứu quốc tế và trong nước về tác động của già hóa dân số đối với cân bằng tài chính hệ thống hưu trí. Về mặt quốc tế, tác giả phân tích các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm tại OECD, Hoa Kỳ, Áo, Bồ Đào Nha, Malaysia, chứng minh việc trì hoãn rút lui khỏi thị trường lao động giúp mở rộng cơ sở đóng góp và giảm nghĩa vụ nợ lương hưu dài hạn của chính phủ.
Về nghiên cứu trong nước, tác giả điểm lại các mô hình tính toán của Giang Thanh Long, Nguyễn Thị Lan Hương, Phạm Trường Giang, qua đó khẳng định sự cần thiết phải nâng cao độ tuổi nghỉ hưu. Từ việc tổng hợp tài liệu, chương xác định rõ việc đánh giá tác động của lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu quy định tại Bộ luật Lao động năm 2019 đối với riêng khối BHXH bắt buộc là yêu cầu cấp thiết về mặt học thuật và thực tiễn.
Chương 2: Cơ sở lý luận về tác động của chính sách tăng tuổi nghỉ hưu đến cân đối Quỹ Hưu trí và Tử tuất
Chương 2 trình bày bản chất kinh tế - xã hội của Quỹ HT&TT và phân tích cơ chế vận hành của hệ thống hưu trí thực thanh thực chi (PAYG DB). Cân bằng tài chính của quỹ chịu sự tác động đồng thời của bốn nhóm yếu tố: nhân khẩu học (mức sinh, tỷ lệ tử vong, kỳ vọng sống), kinh tế vĩ mô (tăng trưởng GDP, lạm phát, tiền lương danh nghĩa, lãi suất đầu tư), chính sách tham gia BHXH (độ bao phủ, mức độ tuân thủ, tỷ lệ đóng góp, công thức tính hưởng) và quy định tuổi nghỉ hưu.
Chương này phân tích kinh nghiệm quốc tế từ 34 quốc gia thành viên OECD. Giai đoạn 1949 - 2035 ghi nhận xu thế tăng tuổi nghỉ hưu và thu hẹp khoảng cách giới tính:
| Tiêu chí |
Năm 1949 |
Năm 1993 |
Năm 2035 (dự kiến) |
| Số nước có tuổi nghỉ hưu của nam từ 65 trở lên |
19 |
11 |
16 |
| Số nước có tuổi nghỉ hưu của nữ từ 65 trở lên |
13 |
5 |
15 |
| Tuổi nghỉ hưu trung bình của nam tại các nước OECD |
65 |
62 |
65 |
| Tuổi nghỉ hưu trung bình của nữ tại các nước OECD |
65 |
60 |
65 |
| Số nước có tuổi nghỉ hưu của nữ thấp hơn nam |
6 |
8 |
1 |
Nguồn: Tổng hợp từ John Turner (2006) trong luận án
Xu hướng điều chỉnh độ tuổi nghỉ hưu tại một số quốc gia qua các mốc thời gian:
| Quốc gia |
Năm 1993 (Nam / Nữ) |
Năm 2002 (Nam / Nữ) |
Năm 2010 (Nam / Nữ) |
Năm 2020 (Nam / Nữ) |
| Anh |
65 / 60 |
65 / 60 |
65 / 60 |
65 / 65 |
| Nhật Bản |
60 / 58 |
61 / 60 |
64 / 62 |
65 / 65 |
| Đức |
63 / 60 |
57 / 60 |
57 / 65 |
60 / 65 |
| Pháp |
60 / 60 |
60 / 60 |
61 / 61 |
61 / 61 |
| Hoa Kỳ |
65 / 65 |
65 / 65 |
66 / 66 |
66 / 66 |
| Đan Mạch |
67 / 67 |
67 / 67 |
65 / 65 |
65 / 65 |
| Thổ Nhĩ Kỳ |
45 / 45 |
44 / 40 |
45 / 41 |
49 / 45 |
| Trung bình OECD |
62,4 / 61,0 |
62,6 / 61,3 |
62,9 / 61,8 |
63,5 / 62,9 |
Nguồn: Tổng hợp từ OECD (2011) trong luận án
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 thiết lập quy trình tính toán, nguồn dữ liệu và khung giả định để mô phỏng tác động của chính sách tăng tuổi nghỉ hưu. Phương pháp định tính sử dụng kết quả thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu nhằm đánh giá sự sẵn sàng làm việc của lao động cao tuổi. Phương pháp định lượng kết hợp phần mềm Stata và mô hình tài chính quỹ của ILO/WB. Các giả định đầu vào bao gồm:
- Dân số và lao động: Dựa trên kịch bản mức sinh trung bình của GSO; tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nhóm 15 - 69 tuổi giai đoạn 2019 - 2050 theo giới tính.
- Kinh tế vĩ mô: Giả định tốc độ tăng trưởng GDP, chỉ số giá tiêu dùng CPI và tốc độ tăng lương bình quân.
- Thông số BHXH: Lãi suất đầu tư Quỹ HT&TT dự báo, tỷ lệ đóng góp (hiện hành là 22% tiền lương, trong đó NLĐ đóng 8%, NSDLĐ đóng 14%), tỷ lệ hưởng hưu tối đa 75%, điều kiện thời gian đóng tối thiểu hưởng hưu.
Chương 4: Dự báo tác động của chính sách tăng tuổi nghỉ hưu đến cân đối Quỹ Hưu trí và Tử tuất ở Việt Nam
Chương 4 phân tích thực trạng thực hiện chính sách BHXH giai đoạn 1995 - 2021 và xây dựng các kịch bản dự báo so sánh đến năm 2069:
- Thực trạng: Số người tham gia BHXH bắt buộc gia tăng nhưng tỷ số giữa người đóng và người hưởng có xu hướng suy giảm; tình trạng nghỉ hưu sớm trước tuổi quy định diễn ra tương đối phổ biến; số lượt nhận BHXH một lần tạo áp lực lên mạng lưới an sinh dài hạn.
- Đo lường theo các kịch bản mô phỏng:
- Kịch bản 1 (Kịch bản cơ sở/không tăng tuổi hưu): Giữ nguyên độ tuổi nghỉ hưu cũ (nam 60 tuổi, nữ 55 tuổi). Kết quả dự báo cho thấy số thu của Quỹ HT&TT sẽ không đủ bù đắp số chi phát sinh ngay tại thời điểm năm 2035; sau thời điểm này, quỹ phải sử dụng tiền lãi đầu tư và thâm hụt dần vào nguồn kết dư lũy kế.
- Kịch bản 2 (Thực hiện tăng tuổi hưu theo Bộ luật Lao động 2019): Nam tiến tới 62 tuổi (năm 2028), nữ tiến tới 60 tuổi (năm 2035). Lộ trình này trực tiếp kéo dài thời gian đóng góp của NLĐ, làm gia tăng tổng thu Quỹ HT&TT ở cả hai giới và các khu vực kinh tế; đồng thời làm chậm tốc độ gia tăng số người hưởng mới trong ngắn và trung hạn, giúp kéo dài thời gian duy trì an toàn tài chính của quỹ so với Kịch bản 1.
- Tác động thị trường lao động: Kết quả ước lượng mô hình cho thấy việc tăng tuổi nghỉ hưu không làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trẻ, khẳng định quan hệ giữa hai nhóm lao động không mang tính cạnh tranh triệt tiêu.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị
Chương cuối cùng tổng hợp các kết quả nghiên cứu thực chứng, phân tích các hàm ý quản lý và đề xuất hệ thống khuyến nghị chính sách:
- Khẳng định tính tất yếu của việc tăng tuổi nghỉ hưu nhằm thích ứng với già hóa dân số tại Việt Nam.
- Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện song hành giữa việc nâng tuổi nghỉ hưu theo luật định (LRA) và tăng tuổi nghỉ hưu thực tế (ARA).
- Kiến nghị thực hiện cơ chế tuổi nghỉ hưu linh hoạt đối với từng nhóm lao động; cải cách đồng bộ các thông số của Luật Bảo hiểm xã hội; phát triển hệ thống hưu trí đa tầng và nâng cao hiệu quả đầu tư nguồn vốn kết dư của quỹ.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn
- Làm rõ cơ chế tác động hai chiều của chính sách tăng tuổi nghỉ hưu đến hoạt động thu, hoạt động chi và trạng thái cân đối dài hạn của Quỹ HT&TT trong điều kiện hệ thống PAYG DB tại một quốc gia đang phát triển.
- Phân tích cụ thể tác động ngắn hạn và dài hạn của việc điều chỉnh tuổi nghỉ hưu, chỉ ra rằng việc nâng tuổi nghỉ hưu giúp giảm áp lực thâm hụt quỹ trong ngắn hạn mà không cần thiết phải áp dụng biện pháp cắt giảm tỷ lệ thay thế (tỷ lệ hưởng lương hưu).
- Đo lường định lượng tác động tài chính của lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 bằng mô hình định phí tài chính chuẩn hóa của ILO/WB, xác định thời điểm thu không đủ bù chi nếu giữ nguyên chính sách cũ là năm 2035.
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm khẳng định việc kéo dài thời gian làm việc của người cao tuổi không gây tác động tiêu cực đến cơ hội việc làm của lao động trẻ tại thị trường lao động Việt Nam.
Khuyến nghị và giải pháp đề xuất
- Đảm bảo tăng tuổi nghỉ hưu thực tế đi liền với tuổi nghỉ hưu luật định: Kiểm soát chặt chẽ các điều kiện giám định suy giảm khả năng lao động để hạn chế tình trạng lợi dụng chính sách nghỉ hưu sớm trước tuổi quy định.
- Thực hiện chế độ tuổi nghỉ hưu linh hoạt: Quy định độ tuổi nghỉ hưu phù hợp với từng nhóm đối tượng lao động (lao động làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được quyền nghỉ hưu sớm hơn; lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao được thỏa thuận kéo dài thời gian làm việc).
- Hoàn thiện chính sách pháp luật về bảo hiểm xã hội: Đồng bộ hóa quy định giữa Bộ luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội; điều chỉnh các tham số tính lương hưu nhằm khuyến khích NLĐ tham gia đóng góp lâu dài; giảm tỷ lệ nhận BHXH một lần.
- Phát triển mô hình bảo hiểm xã hội đa tầng, đa trụ cột: Xây dựng hệ thống an sinh xã hội kết hợp giữa tầng trợ cấp hưu trí xã hội, tầng BHXH cơ bản (bắt buộc và tự nguyện) và tầng bảo hiểm hưu trí bổ sung tự nguyện.
- Duy trì thường xuyên công tác dự báo định phí quỹ: Thực hiện định kỳ hoạt động đánh giá tài chính Quỹ HT&TT với các tham số đầu vào được kiểm định tính chính xác nhằm phát hiện sớm các nguy cơ mất cân đối; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và hiệu quả hoạt động đầu tư tài chính Quỹ BHXH.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu:
- Luận án mới chỉ tập trung đo lường tác động đối với khu vực tham gia BHXH bắt buộc, chưa bao quát nhóm tham gia BHXH tự nguyện.
- Các kết quả dự báo phụ thuộc vào mức độ tin cậy của các giả định kinh tế vĩ mô (tăng trưởng GDP, lạm phát, mức tăng tiền lương) và các chỉ tiêu dân số, thị trường lao động vốn có thể biến động trước các cú sốc kinh tế ngoài dự kiến.
- Một số dữ liệu thống kê chuyên sâu về lịch sử đóng - hưởng chi tiết theo từng nhóm ngành nghề và khu vực chưa được tiếp cận đồng bộ hoàn toàn.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng mô hình tính toán định phí cho toàn bộ hệ thống BHXH, bao gồm cả cấu phần BHXH tự nguyện và tầng hưu trí xã hội.
- Phân tích sâu hơn tác động lan tỏa của việc tăng tuổi nghỉ hưu sang các nhánh an sinh xã hội khác như bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp và bảo hiểm y tế.
- Nghiên cứu cơ chế vận hành của các quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện trong mô hình hưu trí đa tầng tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học và bằng chứng thực nghiệm phục vụ việc xây dựng, sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội, hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động; xây dựng các kịch bản điều hành quỹ an sinh xã hội.
- Đối với cơ quan quản lý và thực thi chính sách (Bảo hiểm xã hội Việt Nam): Cung cấp phương pháp luận và công cụ dự báo dòng tiền quỹ hưu trí chuẩn hóa theo mô hình ILO/WB, phục vụ công tác quản trị rủi ro tài chính và xây dựng chiến lược đầu tư quỹ an toàn, hiệu quả.
- Đối với các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên chuyên ngành: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo trong các ngành Kinh tế bảo hiểm, Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế Lao động và Chính sách công; gợi mở phương pháp kết hợp giữa kinh tế lượng vi mô và mô phỏng định phí hưu trí.
Câu hỏi thường gặp
1. Nếu không tăng tuổi nghỉ hưu, Quỹ Hưu trí và Tử tuất tại Việt Nam sẽ mất cân đối thu - chi vào thời điểm nào?
Theo kết quả mô phỏng tại Kịch bản 1 (giữ nguyên tuổi nghỉ hưu 60 đối với nam và 55 đối với nữ, các tham số chính sách không đổi), Quỹ HT&TT sẽ rơi vào tình trạng tổng số thu trong năm không đủ để bù đắp tổng số chi trả chế độ tại thời điểm năm 2035.
2. Lộ trình điều chỉnh tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 được thực hiện như thế nào?
Theo Điều 169 Bộ luật Lao động năm 2019, từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu trong điều kiện bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với nữ. Sau đó, mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với nam cho đến khi đủ 62 tuổi vào năm 2028; mỗi năm tăng thêm 04 tháng đối với nữ cho đến khi đủ 60 tuổi vào năm 2035.
3. Việc tăng tuổi nghỉ hưu của người lớn tuổi có làm mất cơ hội việc làm của lao động trẻ hay không?
Dựa trên phân tích kinh tế lượng và tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước (như nghiên cứu của René Böheim, Munnell & Wu), luận án chỉ ra không có bằng chứng chắc chắn nào chứng minh việc gia tăng việc làm của lao động cao tuổi gây ảnh hưởng tiêu cực đến cơ hội việc làm hay tiền lương của lao động trẻ; hai nhóm lao động này có tính chất bổ sung cho nhau trên thị trường lao động.
4. Dữ liệu và mô hình nào được sử dụng để dự báo tài chính Quỹ HT&TT trong luận án?
Luận án sử dụng dữ liệu Tổng điều tra Dân số và Nhà ở (1999, 2009, 2019), Điều tra Lao động Việc làm (2016 - 2020), Khảo sát Mức sống VHLSS (2018, 2020) và số liệu thống kê thu - chi Quỹ HT&TT (1995 - 2021) của BHXH Việt Nam. Các phân tích được thực hiện bằng phần mềm thống kê Stata kết hợp mô hình mô phỏng định phí quỹ hưu trí của ILO và Ngân hàng Thế giới trên bảng tính Excel để dự báo dòng tiền đến năm 2069.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Hải Nam đã làm rõ cơ sở lý luận và thực chứng về tác động của chính sách tăng tuổi nghỉ hưu đối với hoạt động thu, chi và cân đối Quỹ Hưu trí và Tử tuất tại Việt Nam trong bối cảnh già hóa dân số. Bằng việc kết hợp phương pháp kinh tế lượng và mô hình định phí tài chính chuẩn hóa của ILO/WB, nghiên cứu chứng minh việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu theo Bộ luật Lao động năm 2019 là giải pháp cần thiết nhằm ngăn chặn nguy cơ thâm hụt thu - chi vào năm 2035 mà không cần cắt giảm tỷ lệ thay thế của người thụ hưởng. Luận án đã đề xuất các giải pháp khả thi nhằm thực hiện lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu linh hoạt, kiểm soát tuổi nghỉ hưu thực tế và hướng tới phát triển hệ thống hưu trí đa tầng, bảo đảm tính bền vững tài chính lâu dài cho hệ thống an sinh xã hội quốc gia.