CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH CỔ TỨC ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1.1 Cổ phiếu và các hình thức giá trị của cổ phiếu 1.1 Khái niệm cổ phiếu Cổ phiếu là giấy chứng nhận số tiền nhà đầu tư đóng góp vào công ty phát hành hay cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó.2 Các hình thức giá trị của cổ phiếu Một cổ phiếu thường sẽ có bốn hình thức giá trị: mệnh giá, thư giá, giá trị nội tại và thị giá. - Mệnh giá (par-value) Giá trị ghi trên giấy chứng nhận cổ phiếu là mệnh giá cổ phiếu. Mệnh giá của mỗi cổ phiếu chỉ có giá trị danh nghĩa, thậm chí ở Mỹ người ta còn phát hành cổ phiếu không có mệnh giá (no par-value stocks), bởi vì đối với cổ phiếu mệnh giá ít có ý nghĩa kinh tế. Thông thường, khi công ty mới thành lập, mệnh giá cổ phiếu được tính như sau: Mệnh giá cổ phần phát hành mới =vốn điều lệ của công ty cổ phần/ tổng số cổ phần đăng ký phát hành Ví dụ: năm 2000, công ty A thành lập với vốn điều lệ 30 tỷ đồng, số cổ phần đăng ký phát hành là 3.
Ta có mệnh giá mỗi cổ phiếu bằng 30 tỷ đồng chia cho 3.000 đồng/cổ phiếu. Nhưng theo thời gian, công ty càng ngày càng phát triển, giá trị thực của cổ phiếu cũng như giá bán của cổ phiếu thoát ly ngày càng xa mệnh giá của cổ phiếu, và hơn thế nữa, cái mà nhà đầu tư quan tâm khi bỏ tiền ra mua cổ phiếu đó là cổ tức của công ty, yếu tố cấu thành nên giá trị thực của cổ phiếu. Do đó, mệnh giá cổ phiếu chỉ có giá trị danh nghĩa. - Thư giá (Book value): Giá cổ phiếu ghi trên sổ sách kế toán phản ánh tình trạng vốn cổ phần của công ty ở một thời điểm nhất định.
Cũng theo ví dụ trên, năm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 2003 Công ty A quyết định tăng thêm vốn bằng cách phát hành thêm 1.000 cổ phiếu, mệnh giá mỗi cổ phiếu vẫn là 10.000 đồng, nhưng giá bán trên thị trường là 25. Biết rằng quỹ tích lũy dùng cho đầu tư còn lại tính đến cuối năm 2003 là 10 tỷ đồng. Trên sổ sách kế toán ngày 31/12/2003 như sau: Vốn cổ phần: Vốn cổ phần theo mệnh giá: 4 triệu x 10.000 = 40 tỷ đồng Vốn thặng dư: (25.000)x1 triệu = 15 tỷ đồng Quỹ tích lũy : 10 tỷ đồng Tổng số vốn cổ phần = 65 tỷ đồng Thư giá cổ phiếu = 65 tỷ đồng/4 triệu = 16.250 đồng - Giá trị lý thuyết (Intrinsic value) hay giá trị nội tại: Là giá trị tính toán của cổ phiếu ở thời điểm hiện tại, xác định căn cứ vào cổ tức công ty, triển vọng phát triển của công ty và lãi suất thị trường. Đây là căn cứ quan trọng cho nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào cổ phiếu.
Sau khi xác định được giá trị lý thuyết của cổ phiếu, nhà đầu tư có thể so sánh với giá thị trường và lựa chọn phương án đầu tư có hiệu quả nhất. Tại điểm cân bằng giữa cung và cầu, giá trị lý thuyết là giá cả hợp lý của cổ phiếu được nhà đầu tư chấp nhận. - Thị giá (Market value): là giá cả cổ phiếu trên thị trường tại một thời điểm nhất định, được thể hiện trong giao dịch cuối cùng đã được ghi nhận. Thực tế, giá thị trường của cổ phiếu không phải do công ty ấn định và cũng không do người nào khác quyết định, mà giá thị trường của cổ phiếu được xác định bởi giá thống nhất mà người bán sẵn sàng bán nó và giá cao nhất mà người mua sẵn sàng trả để mua nó.
Tùy theo quan hệ cung cầu mà thị giá có thể thấp hơn, cao hơn hay bằng giá trị lý thuyết của nó tại thời điểm mua bán. Quan hệ cung cầu cổ phiếu, đến lượt nó lại chịu tác động của nhiều yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội,… Trong đó, yếu tố quan trọng nhất là giá thị trường của công ty và khả năng sinh lợi của nó. Trong phạm vi của đề tài, giá cổ phiếu được sử dụng chính là giá thị trường (hay thị giá của cổ phiếu). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Cổ tức và chính sách cổ tức của các doanh nghiệp niêm yết 1.1 Khái niệm cổ tức Cổ tức cổ phần hay lợi tức cổ phần là một phần lợi nhuận sau thuế được công ty cổ phần phân chia cho các chủ sở hữu của mình bằng nhiều hình thức khác nhau.2 Chính sách cổ tức 1.1 Khái niệm Chính sách cổ tức là chính sách ấn định phân phối lợi nhuận giữ lại tái đầu tư và chi trả cổ tức cho cổ đông.
Lợi nhuận giữ lại cung cấp cho các nhà đầu tư một nguồn tăng trưởng lợi nhuận tiềm năng trong tương lai, trong khi đó, cổ tức cung cấp cho họ một phân phối hiện tại. Chính sách cổ tức hay còn gọi là chính sách phân phối là một trong ba quyết định tài chính quan trọng trong một công ty và nó có liên hệ mật thiết với hai chính sách còn lại là chính sách tài trợ và chính sách đầu tư.2 Tầm quan trọng của chính sách cổ tức Chính sách cổ tức không đơn thuần chỉ là việc phân chia lãi cho các cổ đông, mà nó còn liên quan mật thiết đến công tác quản lý tài chính của công ty cổ phần. Những lý do được đưa ra để giải thích cho tầm quan trọng của chính sách cổ tức như sau: Thứ nhất, chính sách cổ tức ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các cổ đông. Cổ tức cung cấp cho cổ đông một lợi nhuận hữu hình thường xuyên và là nguồn thu nhập duy nhất mà nhà đầu tư có thể nhận được ngay trong hiện tại khi họ đầu tư vào công ty.
Do vậy, việc công ty có duy trì trả cổ tức ổn định hay không ổn định, đều đặn hay dao động thất thường đều làm ảnh hưởng đến quan điểm của nhà đầu tư về công ty, nên nó sẽ dẫn đến sự biến động giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp trên thị trường. Thứ hai, chính sách cổ tức ảnh hưởng đến chính sách tài trợ của công ty. Thông qua việc quyết định chính sách cổ tức mà công ty cũng quyết định chính sách tài trợ. Vì lợi nhuận giữ lại là nguồn quan trọng cho việc tài trợ vốn cổ phần cho khu vực tư nhân.
Do vậy, chính sách cổ tức ảnh hưởng đến số lượng vốn cổ phần thường trong cấu trúc vốn của một công ty, và mở rộng ra, ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vốn của công ty. Ngoài ra, nếu chi trả cổ tức thì các công ty phải bù trừ lại nguồn tài trợ thiếu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 hụt do lợi nhuận giữ lại ít bằng việc huy động vốn từ bên ngoài với nhiều thủ tục phức tạp, và tốn nhiều chi phí hơn. Thứ ba, chính sách cổ tức ảnh hưởng đến chính sách đầu tư của công ty. Với nguồn tài trợ có chi phí sử dụng vốn thấp từ lợi nhuận giữ lại, sẽ làm cho chi phí sử dụng vốn của công ty ở mức tương đối thấp.
Và đồng thời, lợi nhuận giữ lại luôn có sẵn tại công ty. Từ đó công ty có thể linh hoạt lựa chọn đầu tư vào các dự án có tỷ suất sinh lợi cao. Như vậy, lợi nhuận giữ lại có thể kích thích tăng trưởng lợi nhuận trong tương lai và do đó có thể ảnh hưởng đến giá trị cổ phần của doanh nghiệp trong tương lai.3 Các chỉ tiêu chi trả của chính sách cổ tức - Cổ tức một cổ phần thường (Divendend per Share – DPS) Cổ tức mỗi cổ phần là chỉ tiêu phản ánh mức thu nhập thực tế mà mỗi cổ phần được hưởng từ kết quả kinh doanh. Cổ tức mỗi cổ phần cũng có thể được tính toán như sau: Các nhà đầu tư rất quan tâm đến cổ tức mỗi cổ phần thường vì đây là thu nhập thực tế mà nhà đầu tư nhận được ngay trong hiện tại.
Bên cạnh đó họ cũng quan tâm đến mức thay đổi trong cổ tức từ kỳ này qua kỳ khác. Một sự tăng lên trong cổ tức mỗi cổ phần thường mang lại hiệu ứng tốt trong tâm lý của các nhà đầu tư và ngược lại nếu cổ tức mỗi cổ phần bị sụt giảm. Nhưng chỉ tiêu cổ tức mỗi cổ phần thường không phải là chỉ tiêu đo lường triệt để của chính sách cổ tức. Vì nếu dựa trên chỉ tiêu này, nhà đầu tư chỉ biết họ nhận được bao nhiêu tiền từ cổ tức chứ họ không biết doanh nghiệp đã trích bao nhiêu phần trăm từ lợi nhuận sau thuế để chia cổ tức cho các cổ đông, và bao nhiêu để giữ lại cho đầu tư.
Và có một chỉ tiêu khác để đo lường được yêu cầu này đó là tỷ lệ chi trả cổ tức. - Tỷ lệ chi trả cổ tức (Divident payout ratio): Tỷ lệ chi trả cổ tức là tỷ số phản ánh mức cổ tức mà các cổ đông của doanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 nghiệp cổ phần được hưởng chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong thu nhập một cổ phần thường mà doanh nghiệp tạo ra trong kỳ và được tính như sau: Tỷ lệ chi trả cổ tức cũng cho biết công ty dành ra bao nhiêu phần trăm từ thu nhập một cổ phần thường để tái đầu tư. Tỷ lệ chi trả cổ tức càng cao phản ánh doanh nghiệp đã sử dụng đại bộ phận lợi nhuận sau thuế để chi trả cổ tức cho các cổ đông, đồng thời chỉ có một phần nhỏ lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư. Và ngược lại với tỷ lệ chi trả cổ tức thấp.
Những nhà đầu tư nào muốn tìm kiếm thu nhập cho những nhu cầu tiêu dùng trong hiện tại sẽ thích một doanh nghiệp có tỷ lệ chi trả cổ tức cao. Ngược lại, những nhà đầu tư chưa có nhu cầu nhận thu nhập từ cổ tức ngay trong hiện tại và mong chờ một sự gia tăng giá trị cổ phần thường trong tương lai thì họ lại thích một doanh nghiệp có tỷ lệ chi trả cổ tức thấp và giữ lại lợi nhuận nhiều hơn để tái đầu tư. - Tỷ suất cổ tức (Divident Yeild): Tỷ suất cổ tức là tỷ lệ phần trăm giữa cổ tức và thị giá cổ phiếu hay tỷ lệ cổ tức mà nhà đầu tư nhận được so với số tiền mà họ phải trả để mua cổ phiếu đó.