Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đế cân đối ngân sách nhà nước và các nghiên cứu trước đây Trong chương này sẽ giới thiệu một số nghiên cứu liên quan đến cán cân thanh toán quốc tế, cân đối ngân sách nhà nước, tác động của cán cân tài khoản vãng lai, đầu tư trực tiếp nước ngoài đến cân đối ngân sách nhà nước qua các nghiên cứu thực nghiệm. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Nội dung của chương trình bày phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, giới thiệu các biến, các giả định được sử dụng cũng như quy trình thực hiện hồi quy và kiểm định mô hình và kết quả ước lượng. Chương 4: Phân tích định tính và định lượng về tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước Trình bày kết quả phân tích định tính về thực trạng của ngân sách nhà nước, cán cân tài khoản vãng lai, đầu tư trực tiếp nước ngoài tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á. Đồng thời, kết quả hồi quy ước lượng mô hình nghiên cứu tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước cũng được trình bày trong chương này.
Chương 5: Kết luận, hàm ý và kiến nghị về chính sách Từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm, tác giả luận văn đề xuất một số kiến nghị về chính sách nhằm đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở Châu Á. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC THÀNH PHẦN CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ ĐẾN CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Cân đối ngân sách 2.
Khái niệm cân đối ngân sách nhà nước Cân đối ngân sách nhà nước là việc điều chỉnh số thu đảm bảo cho chi tiêu của chính phủ (Cameron, 2004). Vì vậy, cân bằng ngân sách nhà nước là sự khác biệt giữa tổng số thu và chi tiêu. Ngân sách nhà nước bị thâm hụt khi chi tiêu công vượt quá số thu thuế và thặng dư khi số thu thuế lớn hơn chi tiêu công. Ngân sách nhà nước có mối quan hệ ngược chiều với chi tiêu công.
Nghĩa là, nếu số thu thuế không đổi, việc tăng chi tiêu công sẽ làm xấu đi ngân sách nhà nước. Ngược lại, ngân sách nhà nước có mối quan hệ cùng chiều với số thu thuế, nếu số thu thuế tăng trong khi chi tiêu công không đổi, giúp cải thiện ngân sách nhà nước. Những chính phủ có số thu bất ổn thì thâm hụt ngân sách nhà nước sẽ lớn hơn và nếu chính phủ kiểm soát chi tiêu tốt hơn sẽ giảm thâm hụt ngân sách nhà nước (Morrison, 1982). Tài trợ thâm hụt ngân sách Theo Govil (2014), để tài trợ cho thâm hụt ngân sách nhà nước, chính phủ có thể vay mượn từ ngân hàng trung ương, vay nợ nước ngoài, vay nợ các ngân hàng thương mại và vay nợ từ khu vực phi ngân hàng trong nước.
Vay nợ ngân hàng trung ương được thực hiện bằng việc tăng cung tiền (Govil, 2014). Tăng cung tiền để tài trợ cho thâm hụt ngân sách chỉ được sử dụng khi chính phủ buộc phải phát hành tiền để lưu hành lúc thực sự cần thiết (Ghosh, 2002). Giả sử M là lượng tiền tệ đang lưu hành, V là vòng quay của tiền, P là mức giá hàng hóa, T là khối lượng giao dịch, mua bán, theo Boariu & Bilan (2007), phương trình sức mua tiền tệ của Irving Fisher có dạng: M * V = P *T (2.1) Vì vậy, nếu cung tiền tăng, trong khi khối lượng hàng hóa và dịch vụ, vòng quay tiền tệ không thay đổi, mức giá gia tăng. Tại một mức thu nhập danh nghĩa, sự gia LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 tăng mức giá làm giảm thu nhập thực của các cá nhân và tổ chức.
Vì vậy, tăng cung tiền để tài trợ cho thâm hụt ngân sách nhà nước tác động đến việc phân phối thu nhập của người dân theo đúng chủ đích của chính phủ, đó là, lượng tiền tăng thêm được dùng để mua hàng hóa, dịch vụ và chi tiêu công (Fischer & Dornbusch, 1997). Tăng cung tiền để tài trợ thâm hụt ngân sách làm tăng giá. Tuy nhiên, trong dài hạn, tăng cung tiền để tài trợ thâm hụt ngân sách nhà nước có làm lạm phát gia tăng hay không, còn phụ thuộc vào cách sử dụng nguồn lực của chính phủ (Boariu & Bilan, 2007). Nếu lượng tiền in thêm được sử dụng để tài trợ cho các dự án đầu tư, làm sản lượng tăng.
Do đó, sự gia tăng lượng tiền lưu thông sẽ tương đương với số lượng hàng hóa, dịch vụ giao dịch tăng lên. Đến cuối cùng, trong dài hạn, sẽ không còn sự tăng giá. Nếu lượng tiền in thêm được sử dụng để tài trợ cho chi tiêu dùng, không làm tăng GDP, trong dài hạn, gây ra tình trạng lạm phát. Tài trợ thâm hụt bằng hình thức vay nợ, bao gồm vay nợ ngân hàng thương mại, vay nợ nước ngoài, vay nợ khu vực phi ngân hàng trong nước (Govil, 2014).
Khi tài trợ thâm hụt ngân sách nhà nước bằng vay nợ từ ngân hàng thương mại, hay các tổ chức phi ngân hàng, phát hành trái phiếu sẽ gây ra hiện tượng lấn át đầu tư, lạm phát và gánh nặng nợ trong tương lai (Paiko, 2012). Việc tài trợ thâm hụt ngân sách nhà nước bằng vay nợ, chính phủ có thể mở rộng chi tiêu nhưng đồng thời làm tăng thêm nợ công dẫn đến hậu quả trong ngắn hạn và dài hạn. Chính phủ không chỉ phải trả lãi suất hàng năm cho các khoản vay mà còn phải trả lại khoản tiền vay gốc, dẫn đến trong tương lai, thuế sẽ tăng. Keynes (1930) đã nhấn mạnh đến hiệu quả mở rộng của việc tài trợ nợ trong chi tiêu của chính phủ hoặc thâm hụt ngân sách nhà nước.
Trong mô hình Keynes (1930) với mức giá P cố định, C là tiêu dùng của hộ gia đình, I là đầu tư tư nhân, G là chi tiêu chính phủ, sự gia tăng chi tiêu của chính phủ thông qua sử dụng tiền vay dẫn đến sự thay đổi về tổng chi tiêu (C + I + G). Nếu nền kinh tế đang dưới mức toàn dụng, chi tiêu của chính phủ tăng lên sẽ làm tăng sản lượng hoặc thu nhập. Từ đây, thuế thu được từ thu nhập sẽ tăng, dẫn đến giảm thâm hụt ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, chi tiêu của chính phủ được tài trợ bằng nợ được bù đắp phần lớn nhờ hiệu quả của việc huy động vốn từ đầu tư tư LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Hiệu ứng chèn lấn đối với đầu tư tư nhân diễn ra theo nhiều cách. Thứ nhất, các khoản vay của chính phủ để bù đắp ngân sách sẽ làm tăng cầu về các khoản vay dẫn đến mức lãi suất tăng lên. Việc tăng lãi suất sẽ làm cho đầu tư tư nhân giảm. Do đó, sự gia tăng chi tiêu của chính phủ trong việc vay nợ đã làm giảm đầu tư tư nhân.
Mặt khác, gánh nặng nợ mà xã hội phải gánh gia tăng do việc mở rộng nợ trong chi tiêu của chính phủ. Nếu thâm hụt ngân sách nhà nước phát sinh do giảm thuế, chi tiêu của chính phủ không đổi, điều này cũng sẽ dẫn đến tăng lãi suất và sẽ gây ra hiệu ứng chèn lấn đối với đầu tư tư nhân. Điều này xảy ra vì việc giảm thuế kích thích tiêu dùng, tiêu dùng của người dân làm giảm tiết kiệm. Sự sụt giảm tiết kiệm làm tăng lãi suất dẫn đến sự sụt giảm trong đầu tư tư nhân.
Ngoài ra, việc vay nợ nước ngoài để tài trợ thâm hụt ngân sách nhà nước làm gia tăng nợ nước ngoài và ảnh hưởng đến cán cân thanh toán quốc tế, rủi ro tỷ giá hối đoái (Govil, 2014). Thâm hụt ngân sách nhà nước cũng có thể được tài trợ bằng tăng thuế (Okafor và các cộng sự, 2017) theo lý thuyết đường cong Laffer. Lý thuyết Laffer do Arrthur B. Lý thuyết cho rằng những thay đổi về thuế suất có tác động về mặt số học và kinh tế đến số thu thuế.
Về mặt số học, khi thuế suất hạ xuống sẽ làm giảm số thu thuế, thâm hụt ngân sách nhà nước tăng và ngược lại, khi thuế suất tăng làm tăng số thu thuế, thâm hụt ngân sách nhà nước giảm. Về mặt kinh tế, theo Laffer (2004) việc giảm thuế suất tác động tích cực đến việc làm và sản lượng, do đó tạo ra động lực để tăng cường các hoạt động kinh tế. Nếu thuế suất tăng sẽ không khuyến khích những hoạt động kinh tế bị đánh thuế. Vì vậy, Mitchell (2010) đã khuyến cáo các nhà hoạch định chính sách nên đặt mức thuế ở mức tối đa hóa tăng trưởng chứ không phải mức tối đa hóa số thu và đường cong Laffer không cho biết việc cắt giảm thuế sẽ làm giảm hay tăng số thu thuế.
Những thay đổi về thuế suất ảnh hưởng như thế nào đến số thu thuế còn phụ thuộc vào hệ thống thuế, thời hạn áp dụng, khả năng tiếp cận các hoạt động kinh tế ngầm, thuế suất hiện hành, tỷ lệ lỗ hổng pháp lý hay năng suất của nền kinh tế (Okafor và các cộng sự. Lý thuyết đường cong Laffer đã được Trostel (1995) mở rộng trong mô hình tăng trưởng tân cổ điển. Theo Trostel, thâm hụt tài chính làm trì hoãn thuế hiện tại, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 nghĩa là, thuế suất tương lai sẽ tăng. Nếu thuế dựa vào thu nhập, việc tăng thuế sẽ giảm tỷ lệ tiền lương ròng trong tương lai.
Ngoài ra, việc giảm thuế suất hiện hành dẫn đến tăng tỷ lệ tiền lương ròng hiện tại. Điều này ảnh hưởng đến đầu tư vốn nhân lực. Vì vậy, thâm hụt ngân sách nhà nước ảnh hưởng đến tiêu dùng, việc làm, đầu tư vốn, tổng sản lượng, tỷ lệ tiền lương ròng (Okafor và các cộng sự, 2017). Cán cân thanh toán quốc tế (BOP) 2.
Khái niệm Theo định nghĩa của IMF (2009), cán cân thanh toán quốc tế là một báo cáo thống kê những giao dịch kinh tế của một quốc gia với các quốc gia khác trên thế giới trong một khoảng thời gian, có thể là một năm hoặc một quý. Cán cân thanh toán quốc tế được ghi nhận theo nguyên tắc kế toán kép, một giao dịch sẽ được ghi nhận bằng hai bút toán: bút toán nợ và bút toán có.