phần mở đầu, tác giả đã trình ày về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và cách tiếp cận nghiên cứu. Trong chƣơng 1, tác giả sẽ trình ày tổng quan các nghiên cứu trong nƣớc và ngoài nƣớc liên quan đến khả n ng sinh lợi và các nhân tố tác động đến khả n ng sinh lợi. Từ đó, xác lập đƣợc vấn đề nghiên cứu của đề tài.1 Các nghiên cứu về khả năng sinh lợi và đo lƣờng khả năng sinh lợi Lợi nhuận là yếu tố đƣợc quan tâm hàng đầu đối với hoạt động của các công ty. Những công ty không có lợi nhuận ổn định sẽ không thể duy trì trên thị trƣờng.
Chính vì điều đó Ban Giám đốc công ty sẽ phải thực hiện tất cả các hành động có thể có liên quan đến nguồn lực kinh tế trong việc tạo ra lợi nhuận. Trên thế giới cũng nhƣ tại Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu về khả n ng sinh lợi và cách đo lƣờng khả n ng sinh lợi. Các công ty thƣờng kết hợp các nguồn ên trong và ên ngoài để tài trợ hoạt động và t ng hiệu quả (Ali, 2018 ). Các nghiên cứu trƣớc đó và gần đây đã cố gắng xác định các chỉ số tài chính về khả n ng sinh lợi ằng cách phân tích thực nghiệm các yếu tố khác nhau có mối quan hệ lý thuyết với khả n ng sinh lợi, nhƣ tỷ lệ thanh khoản, hệ số vòng quay các khoản phải thu và vốn lƣu động trên tổng tài sản (Singh và Pandey, 2008 ).
Padachi (2006), đã tiến hành nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản lý vốn lƣu động và khả n ng sinh lợi của 58 công ty với dữ liệu đƣợc thu thập trong giai đoạn từ n m 1998 đến n m 2003. Trong nghiên cứu này tác giả định ngh a khả n ng sinh lợi ằng lợi nhuận trƣớc lãi vay và thuế chia cho tổng tài sản ình quân và đƣợc đo lƣờng ằng sức sinh lợi cơ ản của tài sản (ROTA). Kết quả nghiên cứu cho thấy hàng tồn kho và nợ phải thu cao sẽ ảnh hƣởng tới khả n ng sinh lợi. Nghiên cứu 8 cũng chỉ ra rằng trong các ngành đƣợc nghiên cứu, ngành công nghiệp sản xuất và in ấn giấy là ngành có phƣơng pháp quản lý vốn lƣu động tốt nhất và có tác động tốt đến khả n ng sinh lợi.
Tuy nhiên hạn chế trong nghiên cứu Padachi là tác giả mới tập trung nghiên cứu chung các doanh nghiệp vừa và nhỏ chƣa đi sâu vào từng l nh vực ngành nghề cụ thể. Chander và Priyanka (2008) đã xem xét các yếu tố quyết định khả n ng sinh lợi của doanh nghiệp tại 50 công ty dƣợc phẩm và thuốc của Ấn Độ trong khoảng thời gian 10 n m (1995–2004). Trong nghiên cứu này Chander và Priyanka định ngh a khả n ng sinh lợi ằng lợi nhuận sau thuế của chủ sở hữu và nhà cung cấp tín dụng chia cho vốn đầu tƣ ình quân và đƣợc đo lƣờng ằng sức sinh lợi của vốn đầu tƣ. Phân tích dựa trên hồi quy ội với các iến độc lập là quy mô doanh nghiệp (đo lƣờng ằng tổng tài sản), khả n ng sinh lợi trong quá khứ, độ tuổi, cƣờng độ quảng cáo, tỷ lệ trung thành của khách hàng, tính thanh khoản, hiệu n ng hoạt động (tỷ số vòng quay khoản phải trả, tỷ số vòng quay khoản phải thu, tỷ số vòng quay tài sản), tài chính dài hạn, thị phần và tốc độ phát triển.
Kết quả cho thấy độ tuổi, hiệu n ng hoạt động, lợi nhuận trong quá khứ và tốc độ phát triển có ý ngh a thống kê trong việc xác định lợi nhuận của các công ty thuốc và công nghiệp dƣợc phẩm ở Ấn Độ. Tác giả Narware (2010), đã tiến hành một nghiên cứu với đề tài “Working Capital Management: The Effect of Market Valuation and Profita ility in Malaysia” tại Malaysia với mục tiêu phân tích tác động của các thành phần vốn lƣu động đến giá trị thị trƣờng và khả n ng sinh lợi của các công ty. Khả n ng sinh lợi đƣợc sử dụng trong nghiên cứu này đƣợc định ngh a là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả mà nhà máy, thiết ị và tài sản lƣu động đƣợc chuyển thành lợi nhuận và đƣợc đo lƣờng ằng hai công thức: lợi nhuận sau thuế chia cho tổng tài sản ình quân và lợi nhuận sau thuế của chủ sở hữu chia cho vốn đầu tƣ ình quân. Dữ liệu đƣợc thu thập từ áo cáo tài chính của 172 công ty cổ phần niêm yết trong giai đoạn từ n m 2003 đến n m 2007.
Narware đã sử dụng sức sinh lợi của tài sản và sức sinh lợi của vốn đầu tƣ làm chỉ số phản ánh khả n ng sinh lợi. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy có mối quan hệ tiêu cực giữa các thành phần vốn lƣu động đến khả n ng sinh lợi và giá trị thị 9 trƣờng của công ty, điều này mâu thuẫn với các nghiên cứu trƣớc đây về cùng vấn đề này. Vào n m 2012, Siminica và các đồng nghiệp đã thực hiện nghiên cứu “The correlation between the return on assets and the measures of financial balance for Romanian companies” nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa khả n ng sinh lợi và các chỉ tiêu tài chính của 40 công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Bucharest của Romania trong 4 n m từ n m 2007 - 2010. Trong nghiên cứu này, khả n ng sinh lợi đƣợc định ngh a ằng lợi nhuận sau thuế chia cho tổng tài sản ình quân và đƣợc đo lƣờng ằng chỉ số sức sinh lợi của tài sản.
Qua nghiên cứu, Siminica và các đồng nghiệp đƣa ra kết luận sau: khả n ng sinh lợi của các công ty Romania giảm là kết quả của cuộc khủng hoảng kinh tế. Trƣớc khi cuộc khủng hoảng xảy ra (2007) hiệu quả kinh doanh ị ảnh hƣởng đáng kể ởi cấu trúc tài chính. Sau cuộc khủng hoảng, tầm quan trọng của các chỉ số quản trị kinh doanh (tỷ suất lợi nhuận và tỷ lệ doanh thu) đƣợc nhấn mạnh ngoài ra còn có sự tác động của các yếu tố ên ngoài ngẫu nhiên, không thể kiểm soát đƣợc ằng quản lý. Quan và Ly (2014), ƣớc lƣợng các nhân tố ảnh hƣởng đến khả n ng sinh lợi của 58 doanh nghiệp ất động sản đang giao dịch trên hai sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội trong khoảng thời gian 03 n m 2010 – 2012.
Trong nghiên cứu này khả n ng sinh lợi đƣợc đo lƣờng thông qua hai chỉ tiêu là sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu đƣợc định ngh a ằng lợi nhuận sau thuế chia cho vốn chủ sở hữu ình quân và sức sinh lợi của tài sản ằng lợi nhuận sau thuế chia cho tổng tài sản ình quân. Nghiên cứu cho thấy tổng vốn vay trên tổng nợ, tài sản cố định trên tổng tài sản, tỷ lệ cổ phiếu quỹ trên tổng vốn cổ phần, và thời gian hoạt động của doanh nghiệp đều có tác động đến khả n ng sinh lợi. N m 2018, Alarussi và Alhaderi đã tiến hành nghiên cứu về các yếu tố ảnh hƣởng đến khả n ng sinh lợi của các công ty phi tài chính niêm yết ở Malaysia. Alarussi và Alhaderi cho rằng lợi nhuận của một công ty phụ thuộc vào các cơ hội đầu tƣ của 10 công ty đó.
Doanh nghiệp có thể đầu tƣ ằng cách sử dụng tổng nợ, vốn chủ sở hữu hoặc kết hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu. Khả n ng sinh lợi đƣợc đo lƣờng trong nghiên cứu này ằng lãi cơ ản trên cổ phiếu EPS đƣợc định ngh a ằng lợi nhuận sau thuế trừ đi cổ tức chia cho cổ phiếu ƣu đã và chia cho số lƣợng cổ phiếu phổ thông đang lƣu hành ình quân. Khả n ng sinh lợi là ƣu tiên hàng đầu của ất kỳ công ty nào và các công ty Malaysia không phải là ngoại lệ. Trong nghiên cứu này tác giả xem xét ảnh hƣởng của quy mô doanh nghiệp, vốn lƣu động, hiệu quả công ty, tính thanh khoản và đòn ẩy của công ty đối với khả n ng sinh lợi.
Dữ liệu đƣợc thu thập từ áo cáo tài chính của 120 công ty niêm yết trong giai đoạn 2012-2014. Kết quả nghiên cứu cho thấy các iến độc lập đƣợc nghiên cứu đều tác động đến khả n ng sinh lợi, tuy nhiên khả n ng thanh toán không có ảnh hƣởng đáng kể. Qua các nghiên cứu trên cho thấy, các chỉ tiêu về tỉ suất sinh lợi thƣờng đƣợc sử dụng nhiều hơn để đánh giá khả n ng sinh lợi của của doanh vì nó iểu hiện mối quan hệ giữa lợi nhuận và chi phí sản xuất thực tế, thể hiện trình độ kinh doanh của các nhà kinh doanh trong việc sử dụng các yếu tố đó. Theo Lesakova (2007), khả n ng sinh lợi là một chỉ số về sức khỏe tài chính của doanh nghiệp có tốt hay không và làm thế nào để doanh nghiệp có hiệu quả trong việc quản lý tài sản của mình.
Có hai chỉ số phản ánh khả n ng sinh lợi thƣờng đƣợc dùng là sức sinh lợi của tài sản ROA và sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu ROE. Có nhiều nghiên cứu sử dụng sức sinh lợi của tài sản ROA để đo lƣờng mức sinh lợi của doanh nghiệp nhƣ nghiên cứu của Goddard, Tavakoli, và Wilson (2005), Padachi (2006), Narware (2010), Malik (2011), Marian Siminica, Daniel Circiumaru, Dalia Simion (2011), Quan và Ly (2014), Odusanya, Yinusa, và Ilo (2018), Yazdanfar (2013). Sức sinh lợi của tài sản là chỉ số đo lƣờng mức sinh lợi của một doanh nghiệp so với chính tài sản của nó. Chỉ tiêu ROA thể hiện tính hiệu quả của quá trình tổ chức, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Kết quả chỉ tiêu cho iết ình quân cứ một đồng tài sản đƣợc sử dụng trong quá 11 trình sản xuất kinh doanh thì tạo ra đƣợc ao nhiêu đồng lợi nhuận. Vì vậy, chỉ số này sẽ cho iết một doanh nghiệp sử dụng tài sản để kiếm lời hiệu quả nhƣ thế nào. Bên cạnh đó, sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu (ROE) cũng là thƣớc đo phổ iến đƣợc sử dụng để đo lƣờng khả n ng sinh lợi của doanh nghiệp trong các nghiên cứu của Chander & Aggarwal (2008), Quan và Ly (2014), Alarussi & Alhaderi (2018). ROE phản ánh n ng lực sử dụng đồng vốn để sinh lợi trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Phân tích khả n ng sinh lợi của vốn chủ sở hữu cho thấy rõ, một đồng vốn chủ sở hữu sẽ tạo ra đƣợc ao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp.