Chương 1 Cơ sở khoa học và thực tiễn 1. Các lý thuyết kinh tế 1.1 Thu nhập và các thước đo thu nhập của hộ sản xuất nông nghiệp Thu nhập của hộ sản xuất nông nghiệp là giá trị bằng tiền biểu hiện cho kết quả của quá trình sản xuất và được xác định thông qua các thước đo sau: Thu nhập gộp - giá trị tổng sản phẩm hay tổng doanh thu là tích của giá bán sản phẩm và tổng sản lượng đầu ra. Thu nhập ròng - lợi nhuận là hiệu số giữa tổng doanh thu và tổng chi phí, thu nhập ròng phản ánh hiệu quả kinh tế của sản xuất. Thu nhập lao động gia đình là tổng của lợi nhuận và chi phí cơ hội của lao động gia đình tham gia vào quá trình sản xuất.
Như vậy cùng với giá bán, sản lượng đầu ra và chi phí là những nhân tố quyết định trực tiếp đến thu nhập của hộ sản xuất nông nghiệp. Vậy những yếu tố nào liên quan đến sản lượng và chi phí sản xuất, và khi nào hộ sản xuất nông nghiệp sẽ có được thu nhập tối ưu? Để giải đáp cho câu hỏi này chúng ta tìm hiểu một số lý thuyết kinh tế liên quan dưới đây: 1.2 Mối quan hệ giữa sản lượng đầu ra và các yếu tố đầu vào: Sản xuất là quá trình chuyển hóa những yếu tố đầu vào thành những yếu tố đầu ra hay còn được gọi là sản lượng đầu ra hoặc sản phẩm, và kết quả của sản xuất do lượng và chất của các yếu tố đầu vào và công nghệ sử dụng quyết định, mối tương quan phụ thuộc đó được diễn tả qua hàm sản xuất “Hàm sản xuất biểu diễn mối quan hệ kỹ thuật hiệu quả của việc kết hợp các yếu tố đầu vào để sản xuất ra sản lượng đầu ra”1 hay “Hàm sản xuất mô tả những số lượng sản phẩm (đầu ra) tối đa có thể được sản xuất bởi một số lượng các yếu tố sản xuất (đầu vào) nhất định tương ứng với trình độ kỹ thuật nhất định”2. Dạng tổng quát của hàm sản xuất: Y= f (X1, X2, X3, X4., Xn) Với: Y là sản lượng đầu ra; Xi là số lượng yếu tố đầu vào thứ i, các yếu tố đầu vào được chia thành ba nhóm: 1 David Beg “Kinh tế học”, bản dịch Nhà XB Thống kê 2007, trang 105 2 Giáo trình “Kinh tế vi mô”, Trường ĐHKT TP. Hồ Chí Minh, Nhà XB Thống kê 2005, trang 84 6 http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN Nhóm 1 là vốn (K) gồm các yếu tố chính như: nhà xưởng, đất đai, máy móc, và nguyên nhiên vật liệu, đây là nhóm các tư liệu sản xuất biểu hiện cho quy mô sản xuất.
Trong nông nghiệp các yếu tố đầu vào chính thuộc nhóm vốn gồm có: đất, hệ thống tưới nước, máy móc nông nghiệp, sân phơi, gia súc làm việc, giống cây trồng, phân bón, thuốc hoá học, nguyên vật liệu. Nhóm 2 là lao động (L) được đề cập cả về số lượng và chất lượng lao động, chất lượng lao động bao hàm cả những yếu tố phi vật chất như kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm. Nhóm 3 là nhóm các yếu tố tăng năng suất (TFP) điển hình như công nghệ, thể chế kinh tế chính trị. Hàm sản xuất một mặt cho biết sản lượng đầu ra từ việc kết hợp một lượng các yếu tố đầu vào, mặt khác cũng cho biết lượng yếu tố đầu vào cần sử dụng ứng với mỗi kỹ thuật để sản xuất ra mức sản lượng đầu ra theo ý muốn.
Tuy nhiên, mối quan hệ phụ thuộc giữa sản lượng đầu ra và các yếu tố đầu vào trong ngắn hạn và trong dài hạn có những đặc tính riêng do khả năng thay đổi các yếu tố đầu vào trong ngắn hạn và dài hạn khác nhau. Trong ngắn hạn: Do trong ngắn hạn các yếu tố đầu vào cố định - biểu thị cho các hàng hóa không sử dụng hết trong quá trình sản xuất như nhà xưởng, đất đai và máy móc thiết bị, không dễ dàng thay đổi nên việc muốn tăng hay giảm sản lượng chỉ có thể bằng cách thay đổi lượng các yếu tố đầu vào biến đổi như nguyên, nhiên vật liệu, lao động trực tiếp mà thôi. Trong nông nghiệp những yếu tố biến đổi trong ngắn hạn chủ yếu là yếu tố phân bón, nước tưới và lao động. Năng suất trung bình của yếu tố đầu vào biến đổi (APXi) đánh giá mức độ đóng góp của yếu tố đầu vào biến đổi trong quá trình sản xuất, APXi = Y/ Xi, còn năng suất cận biên của yếu tố đầu vào biến đổi (MPXi) sẽ xác định mức gia tăng của sản lượng khi tăng một đơn vị yếu tố đầu vào biến đổi đó trong điều kiện giữ nguyên các yếu tố sản xuất khác, công thức tính: MPXi=ΔY/ ΔXi.
Việc gia tăng lượng yếu tố đầu vào biến đổi không phải lúc nào cũng làm cho sản lượng tăng theo, giai đoạn đầu khi tăng lượng yếu tố đầu vào năng suất cận biên và năng suất trung bình của yếu tố đó đều tăng dần lên dẫn đến sản lượng tăng nhanh, nhưng khi lượng tăng vượt quá một mức nhất định thì sẽ làm cho năng suất trung bình và năng suất cận biên của yếu tố đó cùng giảm dần cho đến khi năng suất cận biên < 0 thì sản lượng bắt đầu giảm. Hiện tượng này có tính quy luật, một quy luật về công nghệ: duy trì tất cả các yếu tố sản xuất không thay đổi ngoại trừ một yếu tố, quy luật năng suất cận biên giảm dần cho rằng đến một mức nhất định, sự tăng 7 http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN thêm đầu vào biến đổi này dẫn đến năng suất cận biên của nó giảm dần1. Mối quan hệ giữa MPX, APXi, và Y như sau: MPXi > APXi thì APXi tăng dần; MPXi>0 thì Y tăng dần; MPXi < APXi thì APXi giảm dần; MPXi < 0 thì Y giảm dần; MPXi = APXi thì APXi đạt cực đại. MPXi = 0 thì Y đạt cực đại.
Như vậy hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào biến đổi cao nhất khi năng suất cận biên và năng suất bình quân bằng nhau, hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào biến đổi đó vẫn còn khi năng suất cận biên của nó dương, và sản lượng sẽ đạt tối đa khi năng suất cận biên bằng 0. Trong dài hạn: Trong dài hạn tất cả các yếu tố đầu vào đều biến đổi, do đó khả năng thay đổi sản lượng đầu ra trong dài hạn sẽ lớn hơn trong ngắn hạn, sản lượng đầu ra trong dài hạn sẽ phụ thuộc vào tất cả các yếu tố đầu vào và sẽ quyết định quy mô của sản xuất trong dài hạn. Hiệu suất của việc gia tăng quy mô sản xuất có thể xảy ra một trong ba trường hợp sau: Trường hợp 1: tỷ lệ tăng sản lượng bằng tỷ lệ tăng của các yếu tố đầu vào - hiệu suất không đổi theo quy mô. Trường hợp 2: tỷ lệ tăng sản lượng lớn hơn tỷ lệ tăng của các yếu tố đầu vào - hiệu suất tăng theo quy mô, thể hiện tính kinh tế của quy mô.
Trường hợp 3: tỷ lệ tăng sản lượng thấp hơn tỷ lệ tăng của các yếu tố đầu vào - hiệu suất giảm theo quy mô, thể hiện tính phi kinh tế của quy mô. Phân tích hàm sản xuất Cobb – Douglas sẽ thấy rõ điều này, ban đầu Y1=A.Lβ, nếu tăng K và L lên hai lần khi đó: Y2 = A. Y1 Nếu +β =1 thì Y2= 2Y1, hàm sản xuất thể hiện hiệu suất không đổi theo quy mô. Nếu +β >1 thì Y2>Y1, hàm sản xuất thể hiện hiệu suất tăng dần theo quy mô - tính kinh tế của quy mô.
Nếu +β <1 thì Y2<Y1, hàm sản xuất thể hiện hiệu suất giảm dần theo quy mô – tính phi kinh tế của quy mô. Nguyên do dẫn đến tính kinh tế của quy mô là đặc tính không thể chia nhỏ của sản xuất, chuyên môn hóa và lợi thế sản xuất quy mô lớn, còn lý do dẫn đến tính phi kinh tế của quy mô là rắc rối trong công tác quản lý và bất lợi về vị trí địa lý của nơi sản xuất, yếu tố công nghệ và toàn cầu hóa sẽ làm giảm tính phi kinh tế của quy mô. 1 David Beg “Kinh tế học”, bản dịch Nhà XB Thống kê 2007, trang 116 8 http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN 1.3 Chi phí sản xuất Chi phí sản xuất (TC) là toàn bộ chi phí bằng tiền mà nhà sản xuất đã chi ra để mua các yếu tố đầu vào, tính đầy đủ chi phí sản xuất còn bao gồm cả chi phí cơ hội của mọi nguồn lực trong sản xuất là số tiền mà khoản đầu tư có thể thu được nếu sử dụng nó vào việc khác với mức trả cao hơn. Chi phí trung bình (AC) sẽ xác định chi phí sản xuất tính cho một đơn vị sản lượng đầu ra, AC = TC/Y, còn chi phí cận biên (MC) xác định mức tăng chi phí sản xuất khi tăng một đơn vị sản lượng đầu ra, MC= ΔTC/ΔY.
Do các khả năng thay đổi của các yếu tố đầu vào là khác nhau trong ngắn hạn và trong dài hạn, nên đặc điểm của chi phí sản xuất, chi phí trung bình và chi phí cận biên trong ngắn hạn và trong dài hạn cũng khác nhau. Chi phí sản xuất ngắn hạn: Chi phí sản xuất ngắn hạn (STC) gồm có chi phí cố định (SFC) và chi phí biến đổi (SVC), trong đó: Chi phí cố định là toàn bộ chi phí mà nhà sản xuất phải chi ra trong mỗi đơn vị thời gian cho các yếu tố đầu vào cố định cho dù không sản xuất ra một sản phẩm nào ví dụ như: tiền thuê hoặc khấu hao trang thiết bị và nhà xưởng, tiền lương cho bộ máy quản lý, và lãi suất vốn vay, chi phí cố định không thay đổi khi sản lượng thay đổi. Trong sản xuất nông nghiệp các chi phí chính thuộc chi phí cố định gồm có: tiền mua và thuê đất, khấu hao tài sản (máy nông nghiệp, nhà kho, sân phơi, công trình thủy nông, vườn cây lâu năm, gia súc làm việc), và lãi vốn vay, riêng đối với cây trồng lâu năm các khoản như giống, tiền công, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nước tưới đầu tư trong giai đoạn chưa cho sản phẩm cũng nằm trong chi phí cố định. Chi phí biến đổi là toàn bộ chi phí mua các yếu tố đầu vào biến đổi như nguyên vật liệu, tiền công lao động trực tiếp, chi phí biến đổi thay đổi cùng với sự thay đổi sản lượng đầu ra trong ngắn hạn.
Trong nông nghiệp chi phí biến đổi là các khoản tiền chi cho phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, tiền công lao động, các nguyên vật liệu khác, và lãi vốn vay trong giai đoạn thu hoạch.