CHƯƠNG 1. CÁC KHÁI NIỆMVÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT. Các khái niệm về thâm hụt ngân sách. Thuật ngữ thâm hụt ngân sách (budget deficit) hay còn gọi là cân bằng ngân sách (budget balance) được nhắc đến rất nhiều trong các tạp chí nghiên cứu và những tài liệu liên quan đến chính sách của chính phủ – thường đi kèm với những cảnh báo rất không mong đợi.
Để biện hộ cho vấn đề thâm hụt ngân sách cao, Eisner (1989) cho rằng đa phần báo cáo của những nhà cầm quyền đều đổ lỗi cho rất nhiều căn bệnh của kinh tế, như là lạm phát cao và đầu tư tư nhân chưa được khuyến khích. Bằng chứng cụ thể của việc chịu trách nhiệm về thâm hụt ngân sách ít khi được cung cấp và cũng ít được tập trung đo lường và đánh giá thâm hụt ngân sách một cách khách quan (Jacobs, 2000). Rõ ràng, có rất nhiều lý thuyết và thực tiễn liên quan đến việc đo lường thâm hụt ngân sách ở các quốc gia, nó là một vấn đề khá phức tạp. Thâm hụt ngân sách thông thường có thể được đo lường dựa trên cơ sở tiền mặt hoặc cơ sở tích lũy các khoản thanh toán.
Đối với trường hợp đầu tiên, thâm hụt ngân sách được đo lường bằng sự chênh lệch giữa tổng dòng tiền chi tiêu và số thu tài khóa. Đối với trường hợp thứ hai,thâm hụt ngân sách phản ánh theo dòng thu nhập và chi tiêu tích lũy, kể cả dòng thành toán bằng tiền mặt và không mặt tiền mặt. Cơ sở tích luỹ được cho là phản ánh tốt hơn sự thâm hụt so với cơ sở tiền mặt do có thêm vào những khoản nợ phải trả và doanh thu ròng không phải bằng tiền mặt (Agénor và Montiel, 1999). Chính phủ các nước tự do định nghĩa cách đo lường thâm hụt ngân sách, hay còn gọi là thâm hụt ngân sáchtheo tập quán của mỗi nước (conventional budget balance).
Nhưng nhìn chung, các khái niệm dù được đưa ra bởi nhiều quốc gia đều đồng ý rằng thâm hụt ngân sách đo lường trong một năm tài khóa. Theo như các tài liệu nghiên cứu và thực tiễn, World Bank và IMF cũng ghi nhận rất nhiều cách khác nhau để đo lường thâm hụt ngân sách mà đang được sử dụng. Ngân hàng Thế giới(World Bank, 1989)định nghĩa thâm hụt ngân sách nên 1 123doc được hiểu làsự khác biệt giữa các khoản chi tiêu như là tiền lương, tiền công, chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ, có bao gồm cả chi tiêu vốn, trả lãi nợ công, chuyển nhượng và trợ cấp;và hạng mụcsố thu bao gồmthuế, phí, lệ phí, các khoản tài trợ, lợi nhuận của công ty công phi tài chính và bán tài sản(Blejer và Cheasty, 1990).Quỹ tiền tệ quốc tế(IMF, 1986)phát hành ấn bảnnăm 1986 lên trang thống kê tài chính các quốc gia(Government Finance Statistics)và thâm hụt ngân sách được cho rằng nên hiểu theo công thức thâm hụt tài khóa: Thâm hụt Tài khóa = (Chi tiêu hàng hóa và dịch vụ + các khoản chuyển nhượng) + (Cho vay – Hoàn trả) - (Số thu + Trợ cấp). Lý thuyết về bộ ba bất khả thi.
Lý thuyết về bộ ba bất khả thi là kết quả nghiên cứu của hai học giả Robert Mundell (1962, 1963) và J. Lý thuyết này rút ra từ hàm ý của mô hình nghiên cứu Mundell-Fleming và đưa tên tuổi của Robert Mundell (1960) vào danh sách những nhà kinh tế học xuất sắc nhất trên thế giới đạt được giải Nobel Kinh tế. Theo lý thuyết bộ ba bất khả thi, một quốc gia không thể đồng thời đạt được cả ba mục tiêu: chính sách tiền tệ độc lập, tỷ giá cố định và tự do hoá dòng vốn (hay còn gọi là hội nhập tài chính hoàn toàn). Trong những thâp kỷ gần đây, cấu hình bộ ba bất khả thi vẫn liên tục được tổng quan và thảo luận, phần lớn các vấn đề xoay quanh các nghiên cứu thực nghiệm nhằm giải thích về sự phát triển của mô hình và những khó khăn về chính sách mà các quốc gia đang đối mặt trong tiến trình toàn cầu hóa.
Những chính sách gia phải đối mặt với sự đánh đổi, gia tăng một biến số trong bộ ba bất khả thi, sẽ giảm trọng số bình quân của một trong hai hoặc cả hai biến số còn lại.1 bên dưới mô tả tóm tắt lý thuyết về bộ ba bất khả thi.Giả thuyết của bộ ba bất khả thi cho rằng một quốc gia chỉ có thể thực hiện đồng thời hai trong ba mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập, ổn định tỷ giá hối đoái và hội nhập tài 2 123doc chính.Mỗi cạnh của tam giác đại diện cho mỗi mục tiêu tiềm năng được mong đợi, tuy nhiên chúng không thể đạt được đồng thời. Lịch sử đã cho thấy rằng, mỗi hệ thống tài chính khác nhau sẽ nỗ lực để đạt được kết hợp hai trong ba chính sách mục tiêu, như là chế độ bản vị Vàng (Good Hình 1.1:Đồ thị lý thuyết về bộ ba bất khả thi Stardard System) - đảm bảo vốn luân chuyển tự do và ổn định tỷ giá hối đoái. Hệ thống Bretton Woods đặc trưng cho chính sách tự chủ tiền tệ và ổn định tỷ giá. Khi nền kinh tế thay đổi, các kết hợp này sẽ phản ứng lại với khủng hoảng và những sự kiện kinh tế chính yếu hàm ý sau mỗi chính sách được lựa chọn, thậm chí mang lại ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực.
Nguồn: Joshua Aizenman, Menzie D. Chinn và Hiro Ito (2011) Phân tích sâu hơn vào đồ thị, ta khái quát được lý thuyết của bộ ba bất khả thi như sau: Trên đỉnh cao nhất, ký hiệu với tên là điểm thị trường tài chính đóng (closed financial markets), hàm ý một chính sách tự chủ tài chính, chính sách tiền tệ độc lập và cơ chế tỷ giá cố định; lựa chọn này được hầu hết các quốc gia đang phát triển ưa chuộng ở giữa cuối những năm 1980s. 3 123doc Ở đỉnh trái, hay được ký hiệu là cơ chế tỷ giá thả nổi (floating exchange rate regime), đạt được sự độc lập tiền tệ, và hội nhập tài chính cao nhất. Lựa chọn này được biết đến nhiều nhất ở Mỹ và kéo dài cả ba thập kỷ.
Ở đỉnh phải, được ký hiệu là từ bỏ sự độc lập tiền tệ (giving up monetary independence), liên quan đến cơ chế ổn định tỷ giá tốt (a pegged exchange rate regime), và mức độ hội nhập tài chính cao – lựa chọn này nổi tiếng ở dạng mô hình các quốc gia Châu Âu trong khối EU với đồng tiền chung. Những nỗ lực không ngừng nghỉ của Mundell vào những năm 1960s đã đặt tiền đề đầu tiên cho bộ ba bất khả thi, trong nội dung mở rộng về nền kinh tế mở của mô hình IS - LM của trường phái Keynes Tân cổ điển (Neo-Keynesian). Mô hình xem xét một quốc gia nhỏ lựa chọn cơ chế tỷ giá của nó và hội nhập tài chính với thị trường tài chính thế giới. Để hình dung một cơ chế đánh đổi, trước hết xem xét một hệ thống tỷ giá hối đoái cố định với vốn luân chuyển tự do, thiết lập này thì tương ứng với vế phải của tam giác trong bộ ba bất khả thi.
Theo đó, trái phiếu chính phủ giữa các quốc gia có thể thay thế hoàn hảo cho nhau, trong điều kiện ngang giá lãi suất không phòng ngừa (Uncovered Interest Rate Parity), dưới chế độ tỷ giá cố định, lãi suất trong nước sẽ bằng với lãi suất nước ngoài. Nếu ngân hàng Trung ương gia tăng cung tiền, sẽ gây ra một áp lực giảm lãi suất nội địa, trái phiếu trong nước sẽ được bán ra và tìm kiếm lợi nhuận cao hơn từ trái phiếu nước ngoài dưới điều kiện vốn luân chuyển hoàn hảo. Do kết quả của kinh doanh chênh lệch giá (Arbitrage), ngân hàng trung ương phải đối mặt với việc dư cầu ngoại tệ vì mục đích mua trái phiếu nước ngoài (nhằm đáp ứng với dư cung của đồng nội tệ). Dưới cơ chế tỷ giá cố định, ngân hàng Trung ương phải can thiệp vào thị trường ngoại hối để đáp ứng mức cầu công chúng về ngoại tệ ở mức tỷ giá chính thức.
Hệ quả là, ngân hàng trung ương bán ngoại tệ ra công chúng.Theo tiến trình này, ngân hàng trung ương mua trở lại lượng dư cung nội tệ mà được khởi xướng bởi chính mình nhằm gia tăng cung tiền. Hiệu ứng ròng của quá trình này là ngân hàng trung ương sẽ mất đi việc kiểm soát cung tiền, bởi vì hiệu ứng cố định tỷ giá trong nền kinh tế có vốn luân chuyển cố định làm mất đi hiệu quả của công cụ tiền tệ điều tiết can thiệp chính 4 123doc sách tiền tệ. Hay nói cách rộng hơn, thiết lập chính sách tỷ giá cố định với vốn luân chuyển hoàn hảo hàm ý phải từ bỏ đi chính sách tiền tệ độc lập.Hoạt động can thiệp của thị trường mở chỉ nhằm thay đổi thành phần cân bằng trong giữa tài sản trong nước và nước ngoài, mà không thực sự ảnh hưởng đến cơ sở tiền hay lãi suất nội địa. Hơn nữa, để duy trì sự ổn định tỷ giá, đòi hỏi ngân hàng trung ương phải duy trì một lượng dự trữ ngoại hối đủ lớn, và dù vậy, về lâu dài, áp lực lên khối dự trữ ngoại hối là không nhỏ.
Lựa chọn cặp chính sách gần bên phải của đồ thị hàm ý rằng trong nền kinh tế nhỏ, mở, việc xác định mức lãi suất nội địa như là một công cụ của chính sách tiền tệ thì khó đạt được đối với những quốc gia mà tỷ giá hối đoái được giữ cố định. Một nền kinh tế mở, nhỏ mà mong muốn duy trì mức độ hội nhập tài chính mà vẫn giữ được sự độc lập về tiền tệ thì buộc phải từ bỏ cơ chế tỷ giá cố định. Hay nói cách khác, dưới cơ chế tỷ giá thả nổi, việc mở rộng cung tiền nội địa tạo ra một sự sụt giảm lãi suất trong nước, hệ quả là dòng vốn sẽ chảy ra ngoài thị trường quốc tế để tìm kiếm lợi nhuận cao hơn trong điều kiện vốn luân chuyển hoàn hảo.Đến lượt lãi suất, sự sụt giảm này sẽ kéo theo một sự gia tăng trong đầu tư, làm yếu đi đồng nội tệ, và thông qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế qua cả kênh đầu tư và xuất khẩu ròng. Lựa chọn này dịch chuyển phương án tư đỉnh phải của đồ thị bộ ba bất khả thi sang đỉnh trái của tam giác ba đỉnh.
Do đó, trong cơ chế tỷ giá thả nổi, với dòng vốn luân chuyển hoàn hảo, chính sách tiền tệ phát huy tác dụng một cách mạnh mẽ. Một giải pháp thay thế khác để một nền kinh tế mở, nhỏ có thể lấy lại sự độc lập về tiền tệ là từ bỏ hội nhập về tài chính trong khi vẫn giữ được sự ổn định của tỷ giá.