Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận. Tóm lại, trong chương này đề tài đã nêu lên lý do cho việc chọn đề tài, mục tiêu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu và bố cục của đề tài. Để làm cơ cở cho những chương tiếp theo trong đề tài. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.
Các quan điểm nghiên cứu trước đây Thông qua việc tìm hiểu các nghiên cứu trước đây, đề tài nhận thấy rằng khi nghiên cứu mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ, tỷ giá và cán cân thương mại các nhà kinh tế thường nghiên cứu tập trung vào hai giả thuyết nghiên cứu chính: - Thứ nhất, giả thuyết hiệu ứng đường cong J thể hiện mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại. Theo đó, một sự mất giá của đồng nội tệ làm giảm giá tương đối của hàng hoá trong nước do đó làm tăng xuất khẩu và giảm nhập khẩu của nước đó. Đường cong J lập luận rằng việc điều chỉnh cán cân thương mại không phải là ngay lập tức vì số lượng hàng nhập khẩu và xuất khẩu không điều chỉnh cùng một lúc trong ngắn hạn, hiệu ứng giá (price effect) chiếm ưu thế hơn hiệu ứng khối lượng (volume effect) dẫn đến cán cân thương mại xấu đi trong ngắn hạn hay điều kiện cân bằng Marshall-Lerner không thoả mãn, tuy nhiên trong trung và dài hạn thì hiệu ứng khối lượng sẽ chiếm ưu thế hơn hiệu ứng giá cả điều kiện cân bằng Marshall-Lerner được thoả mãn và cán cân thương mại sẽ được cải thiện. Và điều này được thể hiện qua hình ảnh đường cong J.
TB + Thời điểm phá giá t0 Thời gian 0 thỏa mãn không MLC MLC thỏa mãn Hình 2.Hiệu ứng đường cong J. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 - Thứ hai, theo mô hình của Mundell-Flemming-Dornbusch truyền thống dự báo rằng: Một sự mở rộng tiền tệ dẫn đến sự mất giá trong tỷ giá hối đoái danh nghĩa và sự suy giảm của các điều khoản của thương mại (terms of trade), kết quả là một sự cải thiện của cán cân thương mại - hiệu ứng chuyển dịch chi tiêu (expenditure switching) nghĩa là theo sau một chính sách mở rộng tiền tệ sẽ giúp nền kinh tế gia tăng sản lượng và thay thế hàng nhập khẩu bằng hàng hoá sản xuất trong nước. Tuy nhiên, một sự mở rộng tiền tệ cũng kích thích nhu cầu tiêu dùng trong nước, có thể dẫn đến sự gia tăng nhập khẩu và một sự xấu đi của cán cân thương mại - hiệu ứng hấp thụ thu nhập (income-absorption effect). Hai hiệu ứng làm cán cân thương mại di chuyển theo hướng ngược nhau.
Sự chuyển động của cán cân thương mại được xác định bởi hiệu ứng chiếm ưu thế hơn (Kim, 2001).Tổng quan các nghiên cứu trước đây 2. Các nghiên cứu thực nghiệm thể hiện mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại - Anju và Uma (1999) nghiên cứu hiệu ứng đường cong J tại Nhật Bản. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình ECM kết hợp với hàm phản ứng thúc đẩy IRF, theo đó các biến được sử dụng trong mô hình: Tỷ lệ xuất khẩu chia nhập khẩu, tỷ giá hối đoái danh nghĩa đa phương, GDP, thu nhập nước ngoài đại diện là GDP của Mỹ. Kết quả nghiên cứu cho thấy có tồn tại hiệu ứng đường cong J tại Nhật Bản.
- Onafowora (2003) nghiên cứu hiệu ứng đường cong J ở các nước Đông Nam Á. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình VECM xem xét mối quan hệ thương mại song phương của ba nước Đông Nam Á: Malaysia, Thái Lan, Indonesia với Mỹ và Nhật Bản. Theo đó, các biến được sử dụng trong mô hình: Tỷ số giá trị xuất khẩu chia nhập khẩu, GDP thực, tỷ giá hối đoái thực song phương, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 D: biến giả nhận giá trị 0 giai đoạn trước khủng hoảng năm 1997 và nhận giá trị 1 cho giai đoạn sau đó. Kết quả nghiên cứu cho thấy Indonesia và Malaysia tồn tại hiệu ứng đường cong J với cả Mỹ và Nhật Bản.
Tuy nhiên Thái Lan chỉ tồn tại hiệu ứng đường cong J với Mỹ còn với Nhật Bản thì Thái Lan tồn tại hiệu ứng đường cong S, cụ thể một cú sốc giảm trong tỷ giá thực ban đầu cải thiện cán cân thương mại nhưng sau đó trở nên xấu đi và cuối cùng là cải thiện cán cân thương mại theo mong muốn. - Dash (2003) nghiên cứu hiệu ứng đường cong J của Ấn Độ với bốn đối tác thương mại lớn Mỹ, Anh, Nhật, Đức. Bài nghiên cứu tác giả sử dụng mô hình VECM với các biến GDP trong nước và GDP nước ngoài, tỷ giá hối đoái để xem xét mối quan hệ trong ngắn hạn và dài hạn giữa cán cân thương mại của Ấn Độ với các đối tác chính. Hàm phản ứng thúc đẩy IRF được sử dụng để xem xét xem hiệu ứng đường cong J có tồn tại và duy trì không.
Kết quả nghiên cứu cho thấy giữa Ấn Độ- Mỹ thì tồn tài mối quan hệ nghịch biến giữa cán cân thương mại với tỷ giá và thu nhập trong nước, đồng biến với thu nhập nước ngoài. Giữa Ấn Độ- Anh tồn tại mối quan hệ đồng biến giữa cán cân thương mại, tỷ giá và thu nhập nước ngoài, có mối quan hệ nghịch biến với thu nhập trong nước. Cả hai trường hợp này đều không tồn tại hiệu ứng đường cong J riêng Anh thì có tồn tại hiệu ứng đường cong S vì vậy nổ lực giảm giá đồng nội tệ sẽ không có tác dụng cải thiện trong cán cân thương mại với các đối tác này. Giữa Ấn Độ-Nhật và Ấn Độ -Đức thì cho mối quan hệ đồng biến trong ngắn hạn giữa cán cân thương mại, tỷ giá và thu nhập trong nước nhưng có mối quan hệ nghịch biến với thu nhập nước ngoài.
Cả 2 trường hợp này đều tồn tại hiệu ứng đường cong J. Theo đó một nỗ lực làm giảm giá đồng nội tệ sẽ đưa đến một sự sụt giảm trong cán cân thương mại khoản 2 tháng và được cải thiện sau đó. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 - Nadenichek (2006) nghiên cứu hiệu ứng đường cong J cho Mỹ và các nước còn lại trong nhóm G7 bằng mô hình SVECM theo đó các biến được sử dụng trong mô hình: sản lượng công nghiệp của Mỹ, sản lượng của các nước còn lại trong nhóm G7, tỷ giá hối đoái thực hiệu lực, cán cân thương mại của Mỹ. Kết quả cho thấy cán cân thương mại xấu đi trong khoản thời gian từ một đến bảy quý do sự sụt giảm trong tỷ giá và sau đó được cải thiện liên tục- hỗ trợ cho lý thuyết hiệu ứng đường cong J.
- Fratzscher, Juvenal và Sarno (2007) nghiên cứu mối quan hệ giữa giá tài sản, tỷ giá và cán cân tài khoản vãng lai của Mỹ. Tác giả sử dụng một mô hình VAR đệ quy với các biến trong mô hình là chênh lệch giữa các biến tại Mỹ với nhóm nước còn lại thuộc nhóm G7: chênh lệch tiêu dùng khu vực tư nhân, chênh lệch lạm phát, chênh lệch lãi suất, tỷ giá hối đoái thực, chênh lệch chỉ số chứng khoản, chênh lệch giá nhà, cán cân thương mại chia cho GDP (nghiên cứu giả định sự biến động trong cán cân thương mại cũng chính là sự biến động trong cán cân tài khoản vãng lai). Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa cán cân thương mại của Mỹ và tiêu dùng khu vực tư nhân, cán cân thương mại của Mỹ chịu ảnh hưởng mạnh của tiêu dùng khu vực tư nhân. Một cú sốc tỷ giá giải thích được 7% trong biến động của cán cân thương mại, giúp cải thiện cán cân thương mại trong ngắn hạn.
Tồn tại một mối quan hệ nghịch biến giữa cán cân thương mại của Mỹ và chỉ số giá chứng khoán. Một cú sốc trong giá chứng khoán giải thích được 5% biến động trong cán cân thương mại của Mỹ ngay trong quý đầu tiên và giải thích đươc 19. - Aziz (2008) nghiên cứu vai trò của tỷ giá trong cán cân thương mại ở Bangladesh. Nghiên cứu sử dụng mô hình ECM và hàm phản ứng thúc đẩy (IRF) với các biến: tỷ giá hối đoái thực, cán cân thương mại, GDP.
Theo đó, mô hình ECM cho thấy tỷ giá hối đoái thực có ảnh hưởng mạnh đến cán cân TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 thương mại của Bangladesh trong ngắn hạn. Tiếp theo nghiên cứu sử dụng hàm phản ứng thúc đẩy để xem xét điều kiện cân bằng Marshall – Lerner và cho thấy điều kiện Marshall – Lerner không tồn tại trong ngắn hạn nhưng tồn tại trong dài hạn tức tồn tại hiệu ứng đường cong J ở Bangladesh. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng một nổ lực trong việc phá giá đồng tiền sẽ góp phần cải thiện cán cân thương mại của Bangladesh, tuy nhiên việc phá giá liên tục sẽ đưa đến những bất ổn trong kinh tế vĩ mô. Các nghiên cứu thực nghiệm thể hiện mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và cán cân thương mại.
- Koray và McMillin (1999) nghiên cứu tác động cú sốc chính sách tiền tệ đến cán cân thương mại tại Mỹ với các biến kiểm soát là các biến của các nước còn lại trong nhóm nước G7. Theo đó các biến được sử dụng: Nhóm biến của Mỹ gồm: Sản lượng công nghiệp, chỉ số giá tiêu dùng (CPI), lãi suất liên bang Mỹ, cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực hiệu lực (REER); các biến kiểm soát gồm: sản lượng công nghiệp, chỉ số giá tiêu dùng, lãi suất bình quân của các nước còn lại trong nhóm G7. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình VAR đệ quy, kết quả cho thấy theo sau một cú sốc thắt chặt chính sách tiền tệ (sự tăng lên trong lãi suất) sẽ làm cho tỷ giá hối đoái thực tăng, cán cân thương mại bị sụt giảm trong ngắn hạn và sau đó được cải, không tìm thấy “price puzzle” khi có một cú sốc thắt chặt tiền tệ. Ngoài ra kết quả cũng cho thấy xuất hiện “exchange rate puzzle” trong khoản hai quý.
- Kim (2001) xem xét ảnh hưởng của cú sốc chính sách tiền tệ đến cán cân thương mại của các nền kinh tế nhỏ mở: Pháp, Ý và Anh. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình SVAR với các biến: Lãi suất ngắn hạn của nước nghiên cứu, cung tiền, chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số sản xuất công nghiệp, lãi suất liên bang của Mỹ, tỷ số xuất khẩu chia nhập khẩu. Kết quả nghiên cứu cho thấy theo sau một cú sốc mở rộng chính sách tiền tệ (lãi suất giảm, cung tiền tăng) đưa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.