CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN VẺ CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BÓ LIÊN QUAN ĐÉN CHỦ ĐÈ LUẬN ÁN 1. Các công trình khoa học đã công bố ở nước ngoài liên quan đến chủ đề luận án Qua nghiên cứu tài liệu nước ngoài, tác giả nhận thấy đã có những công trình nghiên cứu được công bố bàn về một số nội dung liên quan đến chủ đề của luận án. Trước hết, phải kể đến công trình nghiên cứu có tên “National Science Policy and Universities” [70]. Công trình nghiên cứu nay đã cho thấy khoa học từ chỗ bị bỏ quên được biết đến như một công cụ quản lý, ở giai đoạn khoa học bị bỏ quên, các trường ĐH nhận được tài trợ từ Chính phủ cho nghiên cứu như nhà ở, thiết bị và vật liệu nhưng trên thực tế không có một chính sách khoa học nào được tuyên bố, chỉ đến khi mối quan hệ giữa các trường DH với nhà nước va các nganh trong xã hội, đặc biệt là công nghiệp và thương mại ngày càng được khang định thì sự đối mới, phát triển về công nghệ mới được nhìn nhận là phụ thuộc trực tiếp hơn và thường gan lién với thực hành khoa học.
Một chính sách đã được ban hành nhằm khuyến khích, tăng cường mối quan hệ chặt chẽ giữa các trường DH và các doanh nghiệp. Chính sách nhắn mạnh đến vai trò của các trường ĐH trong sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, được xem là nguồn đổi mới công nghệ và khuyến khích các doanh nghiệp hợp tác trong lĩnh vực giáo dục cũng như nghiên cứu, một loạt mục tiêu lớn trong chính sách được thiết kế dé đưa các trường DH và doanh nghiệp gần nhau hon nhằm khuyến khích các ngành công nghiệp chiếm phan lớn trong tài trợ cho nghiên cứu trong các trường DH dé giảm sự phụ thuộc vào quỹ công. Các Chính phủ đã thiết lập hướng rõ ràng hơn cho chính sách GDĐH và khoa học: Yêu cầu các trường ĐH đệ trình các kế hoạch nghiên cứu và đã cho phép các viện nghiên cứu và trường ĐH được tự do hơn về vấn đề học thuật. Điều này được minh chứng bằng việc thay đôi trong Luật về Sở hữu trí tuệ, các trường ĐH được giải phóng, yêu cầu bồi thường quyền sở hữu trí tuệ đối với những kiến thức mới được phát triển trong tài trợ của nhà nước.
Các chính sách khoa học dựa trên ý tưởng về kiến thức nền kinh tế đang ngày càng lan rộng khắp thế giới, bao gồm cả trong các nền kinh tế dang phát triển của Mỹ Latinh, An Độ, Trung Quốc và các nước khác trong khu vực Châu A - Thái Binh Dương, các chính sách khoa học này là những yếu tổ chính gây nên sự thay đôi 19 trong chức năng của trường DH ở các quốc gia trên thé giới. Mặc dù, nghiên cứu đã cho thấy vai trò của nhà nước trong việc gắn kết trường ĐH với các doanh nghiệp, nhằm thúc đây hoạt động nghiên cứu của trường ĐH nhưng lại chưa bàn tới sự tác động của các chính sách, nhất là chính sách KH&CN đến hoạt động KH&CN trong trường DH nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN của trường DH (nhất là hàm lượng NCKH) dé từ đó thúc day hình thành DHNC. Công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của chính sách đến nghiên cứu của trường DH đó là nghiên cứu “The Impact of Scientific and Technological Policy Interventions on University Research: Evidence from the National Nano-Technology Initiative” [74]. Nghiên cứu nay đã xem xét sáng kiến công nghệ Nano quốc gia (NNI) như là một sự can thiệp chính sách nhằm mục đích thương mại hóa công nghệ và một hướng nghiên cứu tập trung đề thúc đầy tăng trưởng kinh tế quốc gia.
Nghiên cứu cũng cho thấy NNI có mang lại những hậu quả không lường trước được trong dòng chảy kiến thức của ngành DH và đặc điểm của nghiên cứu DH về công nghệ Nano, thông qua phân tích các bằng sáng chế về NNI của Hoa Kỳ được đệ trình từ năm 1996 đến năm 2007, các trường DH đã tăng đáng kể lưu lượng tri thức từ ngành công nghiệp, giảm sự phân nhánh nhưng NNI lại thu hẹp phạm vi nghiên cứu, và it có khả năng tạo ra công nghệ. Nghiên cứu cũng đã cho thay những phát hiện mới: Ít nhất trong trường hợp của NNI, các chương trình KH&CN của Chính phủ có thé làm tăng hiệu quả nghiên cứu của trường ĐH. Đây là nghiên cứu gần với chủ đề luận án, nghiên cứu đã đề cập đến sự tác động can thiệp của chính sách cụ thê (chính sách về NND vào nghiên cứu của trường DH, một số khái niệm liên quan đến chủ đề luận án cũng được đề cập trong nghiên cứu như: tác động; chính sách; chính sách KH&CN. Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ tập trung phân tích sự tác động của chính sách về NNI đến ban chất nghiên cứu của trường DH, sự can thiệp của nhà nước bằng chính sách này nhằm thương mại hóa các sản phẩm công nghệ của trường DH mà chưa chỉ ra tác động của chính sách này đến việc hình thành DHNC.
Hay nghiên cứu “Research Universities: The core of the US system of science and technology” [66]. Nghiên cứu nay bàn về chính sách hỗ trợ tài chính của Chính phủ cho nghiên cứu của trường DH từ năm 1950 đến giữa những năm 1970, thông qua việc thành lập các chương trình nhằm khuyến khích hợp tác NCKH với trường ĐH và coi đây như là một phương 20 tiện dé thiết lập mối quan hệ giữa các trường DH và ngành công nghiệp, tuy nhiên lại phải đối mặt với một số thách thức đáng kê dé có thể tiếp tục giữ vị trí hàng đầu trong việc tìm kiếm kiến thức. Có thể thấy, nghiên cứu mới chỉ tiếp cận dưới góc độ chính sách tài chính mà chưa bàn đến các chính sách khác có liên quan nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đây nghiên cứu của trường DH, tuy nhiên nghiên cứu cũng đã đề cập đến một số khái niệm liên quan đến chủ đề của luận án như KH&CN, chính sách tài chính. Nghiên cứu có tên “Policies and Universities in Knowledge in Developing Countries: Inclusive Development and" Developmental Universities” [67], lại đề cập đến loại chính sách được gọi là "dân chủ hóa các chính sách tri thức" và chỉ ra cách chính sách này hoạt động trong thực tiễn và khám phá cách mà trường ĐH, một phần quan trọng của bất kỳ hệ thống đổi mới quốc gia nào, có thé đóng một vai trò trong sự nổi lên và củng có sự dân chủ hóa tri thức.
Các trường ĐH nắm lấy vai trò đó có thể được coi là các trường ĐH phát triển. Nghiên cứu đã đi phân tích tại một trường hợp ở Uruguay minh họa một sự chuyên đổi liên tục hướng tới một trường DH phat triển. Kết quả đạt của nghiên cứu này đã chỉ ra được vai trò của chính sách dân chu hóa tri thức của trường DH trong hệ thống đổi mới quốc gia nhưng nghiên cứu này lại chưa bàn đến tác động của chính sách KH&CN đến hoạt động KH&CN để thúc đây hiệu quả hoạt động KH&CN của trường DH. Cũng đã có những công trình ban về vai trò của trường DH trong hệ thống giáo duc quốc gia, đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cứu có tên “Educational Activity of National Research Universities as a Basis for Integration of Science, Education and Industry in Regional Research and Educational Complexes” [72].
Nghiên cứu này đã bàn đến việc hội nhập các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp, KH&CN ở Nga, thông qua nghiên cứu khảo sát trường hợp cụ thể về hoạt động giáo dục tại hai trường ĐH quốc gia - ĐH Tomsk và ĐH Bách khoa Tomsk. Nghiên cứu chỉ ra được sự gan két trường DH va các cơ sở nghiên cứu nhằm thực hiện cải cách hệ thống giáo dục của liên bang Nga và có đề cập đến một số khái niệm liên quan đến chủ đề của luận án như khái niệm khoa học; ĐHNC, nhưng lại không đề cập đến chính sách KH&CN nào, cũng như tác động của chính sách KH&CN đến trường ĐH để thúc day hình thành thành DHNC. Hay“Research of university science and 21 technology innovation system based on low-carbon economy” [77], nghiên cứu nay bàn về một số van đề đôi mới KH&CN của trường DH hiệu quả hơn, thông qua việc đề xuất xây dựng hệ thống đổi mới công nghệ quốc gia. Để làm được điều đó, các trường ĐH cần xây dựng đội ngũ sáng tạo và tô chức học tập trên nền tảng phần cứng sáng tạo cũng như tăng cường nền tảng phần mềm để các trường ĐH là những hệ thống sáng tạo có sự tham gia của các nhà khoa học và quản lý tri thức.
Nghiên cứu này đã có nhắc tới một số khái niệm liên quan đến chủ đề của luận án đó là KH&CN. Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc xem xét hệ thong đôi mới KH&CN của các trường ĐH mà chưa có sự đánh giá tác động của hệ thống đổi mới KH&CN đến hoạt động nghiên cứu của trường ĐH. Ngoài ra, còn phải kể đến các tác giả Muskin J., Jack Coteen (Anh), Wu. L, Cristopher John Hull (Hoa Kỳ).
Các công trình nghiên cứu của các tác giả ké trên tập trung vào các vấn đề: Chức năng của trường ĐH về KH&CN; đặc điểm công tác KH&CN trong trường ĐH, các hình thức tổ chức hoạt động KH&CN trong trường ĐH, các mối liên kết của trường ĐH với các khu vực công nghiệp qua việc xây dựng các khu khoa học, đặc khu công nghệ, dịch vụ tư vấn CGCN trong trường DH, các cơ sở va phương tiện cho NCKH, đánh giá chất lượng nghiên cứu, cơ chế hoạt động tự chủ của trường ĐH trong hoạt động KH&CN. Cũng có những công trình nghiên cứu về ĐHNC, trước hết là nghiên cứu có tên “Research Assessment of Research-Oriented Universities in Taiwan from 1993 to 2003” [71]. Nghiên cứu nay xem xét các hiệu suất ấn pham học thuật của các trường ĐH định hướng nghiên cứu và được minh họa bằng việc sử dụng số lượng trích dẫn, các trích dẫn trung bình bài báo. Sau đó, đánh giá số lượng ấn phẩm trong các lĩnh vực đó dé chỉ ra những giá trị của các ấn phẩm khoa học của từng trường.
Có thé nói, đây là công trình đã có cách tiếp cận khác về các tiêu chí đánh giá năng lực nghiên cứu của trường DH. Ngoài hai chỉ số quen thuộc thường được nhắc đến khi tién hành đánh giá nghiên cứu là số lượng bài báo và số lượng trích dẫn, còn xem xét trên những chỉ số khác như: tỷ lệ trích dẫn trung bình hoặc tần số trích dẫn. Các chỉ số nay dùng để kiểm tra tác động kết quả nghiên cứu của các trường DH.