Tác động của chính sách khoa học và công nghệ đến hoạt động khoa học tại đại học Thái Nguyên

Luận án phân tích tác động của chính sách khoa học và công nghệ đến hoạt động tại Đại học Thái Nguyên, thúc đẩy hình thành đại học nghiên cứu.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

179
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Tính mới của luận án

1.3. Ý nghĩa của luận án

1.3.1. Về mặt lý luận

1.3.2. Về mặt thực tiễn

1.4. Mục tiêu nghiên cứu

1.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5.1. Đối tượng nghiên cứu

1.5.2. Phạm vi nghiên cứu

1.5.2.1. Phạm vi về nội dung nghiên cứu
1.5.2.2. Phạm vi về không gian nghiên cứu

2. TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ LUẬN ÁN

2.1. Các công trình khoa học đã công bố ở nước ngoài liên quan đến chủ đề luận án

2.2. Các công trình khoa học đã công bố ở trong nước liên quan đến chủ đề luận án

2.3. Kết luận chương I

3. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẾN HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỂ THÚC ĐẨY HÌNH THÀNH ĐẠI HỌC NGHIÊN CỨU

3.1. Một số khái niệm cơ bản được sử dụng trong luận án

3.2. Lý luận về đại học nghiên cứu

3.2.1. Định nghĩa đại học nghiên cứu

3.2.2. Đặc trưng đại học nghiên cứu

3.2.3. Tiêu chí đại học nghiên cứu

3.3. Lý luận về sự tác động của chính sách

3.3.1. Tác động chính sách

3.3.2. Đánh giá tác động chính sách

3.3.3. Cách tiếp cận và phương pháp đánh giá tác động chính sách

3.3.4. Khung đánh giá tác động chính sách khoa học và công nghệ

3.4. Kết luận chương II

4. HIỆN TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẾN HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỂ THÚC ĐẨY HÌNH THÀNH ĐẠI HỌC NGHIÊN CỨU (Nghiên cứu trường hợp Đại học Thái Nguyên)

4.1. Khái quát về mẫu khảo sát

4.2. Tác động của nhóm chính sách khoa học và công nghệ đến phát triển hoạt động khoa học và công nghệ trong Đại học Thái Nguyên

4.3. Tác động của nhóm chính sách khoa học và công nghệ đến quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về khoa học và công nghệ trong Đại học Thái Nguyên

4.4. Kết luận chương III

5. GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CHẤT LƯỢNG MỘT SỐ CHÍNH SÁCH LỰA CHỌN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỂ THÚC ĐẨY HÌNH THÀNH ĐẠI HỌC NGHIÊN CỨU

5.1. Quan điểm cho việc đề xuất giải pháp

5.2. Giải pháp tăng cường chất lượng của nhóm chính sách tác động đến phát triển hoạt động khoa học và công nghệ trong trường đại học

5.3. Giải pháp tăng cường chất lượng nhóm chính sách tác động đến thiết chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về khoa học và công nghệ trong trường đại học

5.4. Đề xuất giải pháp tăng cường hàm lượng nghiên cứu khoa học cho Đại học Thái Nguyên

5.4.1. Kiện toàn các đơn vị nghiên cứu trong Đại học Thái Nguyên

5.4.2. Phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh trong Đại học Thái Nguyên

5.4.3. Nâng cao năng lực nghiên cứu cho đội ngũ cán bộ của Đại học Thái Nguyên

5.4.4. Tăng cường và đa dạng hóa nguồn kinh phí cho hoạt động khoa học và công nghệ

5.5. Kết luận chương IV

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Tóm tắt

I. Tác động của chính sách khoa học và công nghệ

Chính sách khoa học và công nghệ (KH&CN) đóng vai trò quan trọng trong việc định hình hoạt động tại các trường đại học, đặc biệt là tại Đại học Thái Nguyên. Chính sách này không chỉ ảnh hưởng đến quy trình nghiên cứu mà còn tác động đến quyền tự chủ và trách nhiệm của các trường trong việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN. Theo Nghị định số 99/2014/NĐ-CP, các trường đại học được khuyến khích phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo và sản xuất tri thức mới. Việc áp dụng chính sách này đã tạo ra những thay đổi tích cực trong hoạt động KH&CN tại Đại học Thái Nguyên, giúp tăng cường khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế của trường.

1.1. Tác động đến hoạt động giáo dục

Chính sách KH&CN đã thúc đẩy sự phát triển của hoạt động giáo dục tại Đại học Thái Nguyên. Các giảng viên được khuyến khích tham gia vào các dự án nghiên cứu, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy. Nghiên cứu của Salmi (2007) nhấn mạnh rằng các trường đại học nghiên cứu có vai trò cốt yếu trong việc đào tạo chuyên môn và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Điều này cho thấy rằng chính sách KH&CN không chỉ đơn thuần là một công cụ quản lý mà còn là một yếu tố quyết định đến sự phát triển bền vững của giáo dục đại học.

II. Thực trạng hoạt động khoa học và công nghệ tại Đại học Thái Nguyên

Hoạt động KH&CN tại Đại học Thái Nguyên đã có những bước tiến đáng kể nhờ vào sự hỗ trợ của các chính sách KH&CN. Theo báo cáo, số lượng đề tài nghiên cứu khoa học tăng lên rõ rệt sau khi áp dụng Nghị định 99/2014. Các giảng viên đã tích cực tham gia vào các hoạt động nghiên cứu, công bố bài báo quốc tế, và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua, như việc thiếu nguồn tài chính và cơ sở hạ tầng cho nghiên cứu. Điều này đòi hỏi sự quan tâm và đầu tư từ phía nhà nước cũng như các cơ sở giáo dục để nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN.

2.1. Đánh giá tác động của chính sách

Đánh giá tác động của chính sách KH&CN đến hoạt động tại Đại học Thái Nguyên cho thấy có sự cải thiện rõ rệt trong việc thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu. Tuy nhiên, cần có những biện pháp cụ thể để khắc phục những hạn chế hiện tại. Việc đánh giá này không chỉ giúp nhận diện những điểm mạnh mà còn chỉ ra những điểm yếu trong việc thực hiện chính sách, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động KH CN

Để nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN tại Đại học Thái Nguyên, cần có những giải pháp cụ thể nhằm cải thiện chất lượng nghiên cứu và đào tạo. Một trong những giải pháp quan trọng là tăng cường hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, tạo điều kiện cho giảng viên và sinh viên tham gia vào các dự án nghiên cứu lớn. Bên cạnh đó, cần có chính sách tài chính hợp lý để hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu, từ đó khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới trong giáo dục. Việc xây dựng một môi trường nghiên cứu tích cực sẽ góp phần thúc đẩy hình thành đại học nghiên cứu tại Việt Nam.

3.1. Tăng cường nguồn lực cho nghiên cứu

Tăng cường nguồn lực cho hoạt động KH&CN là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành công của Đại học Thái Nguyên trong việc thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu. Cần có sự đầu tư mạnh mẽ từ phía nhà nước và các tổ chức tư nhân để phát triển cơ sở hạ tầng nghiên cứu, cũng như tạo điều kiện cho giảng viên và sinh viên tham gia vào các hoạt động nghiên cứu. Điều này không chỉ giúp nâng cao chất lượng nghiên cứu mà còn tạo ra những sản phẩm khoa học có giá trị cho xã hội.

07/02/2025
Luận án tiến sĩ quản lý khoa học và công nghệ tác động của chính sách khoa học và công nghệ đến hoạt động khoa học và công nghệ trong các trường đại học để thúc đẩy hình thành đại học nghiên cứu nghiên cứu trường hợp đại học thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN VẺ CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BÓ LIÊN QUAN ĐÉN CHỦ ĐÈ LUẬN ÁN 1. Các công trình khoa học đã công bố ở nước ngoài liên quan đến chủ đề luận án Qua nghiên cứu tài liệu nước ngoài, tác giả nhận thấy đã có những công trình nghiên cứu được công bố bàn về một số nội dung liên quan đến chủ đề của luận án. Trước hết, phải kể đến công trình nghiên cứu có tên “National Science Policy and Universities” [70]. Công trình nghiên cứu nay đã cho thấy khoa học từ chỗ bị bỏ quên được biết đến như một công cụ quản lý, ở giai đoạn khoa học bị bỏ quên, các trường ĐH nhận được tài trợ từ Chính phủ cho nghiên cứu như nhà ở, thiết bị và vật liệu nhưng trên thực tế không có một chính sách khoa học nào được tuyên bố, chỉ đến khi mối quan hệ giữa các trường DH với nhà nước va các nganh trong xã hội, đặc biệt là công nghiệp và thương mại ngày càng được khang định thì sự đối mới, phát triển về công nghệ mới được nhìn nhận là phụ thuộc trực tiếp hơn và thường gan lién với thực hành khoa học.

Một chính sách đã được ban hành nhằm khuyến khích, tăng cường mối quan hệ chặt chẽ giữa các trường DH và các doanh nghiệp. Chính sách nhắn mạnh đến vai trò của các trường ĐH trong sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, được xem là nguồn đổi mới công nghệ và khuyến khích các doanh nghiệp hợp tác trong lĩnh vực giáo dục cũng như nghiên cứu, một loạt mục tiêu lớn trong chính sách được thiết kế dé đưa các trường DH và doanh nghiệp gần nhau hon nhằm khuyến khích các ngành công nghiệp chiếm phan lớn trong tài trợ cho nghiên cứu trong các trường DH dé giảm sự phụ thuộc vào quỹ công. Các Chính phủ đã thiết lập hướng rõ ràng hơn cho chính sách GDĐH và khoa học: Yêu cầu các trường ĐH đệ trình các kế hoạch nghiên cứu và đã cho phép các viện nghiên cứu và trường ĐH được tự do hơn về vấn đề học thuật. Điều này được minh chứng bằng việc thay đôi trong Luật về Sở hữu trí tuệ, các trường ĐH được giải phóng, yêu cầu bồi thường quyền sở hữu trí tuệ đối với những kiến thức mới được phát triển trong tài trợ của nhà nước.

Các chính sách khoa học dựa trên ý tưởng về kiến thức nền kinh tế đang ngày càng lan rộng khắp thế giới, bao gồm cả trong các nền kinh tế dang phát triển của Mỹ Latinh, An Độ, Trung Quốc và các nước khác trong khu vực Châu A - Thái Binh Dương, các chính sách khoa học này là những yếu tổ chính gây nên sự thay đôi 19 trong chức năng của trường DH ở các quốc gia trên thé giới. Mặc dù, nghiên cứu đã cho thấy vai trò của nhà nước trong việc gắn kết trường ĐH với các doanh nghiệp, nhằm thúc đây hoạt động nghiên cứu của trường ĐH nhưng lại chưa bàn tới sự tác động của các chính sách, nhất là chính sách KH&CN đến hoạt động KH&CN trong trường DH nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN của trường DH (nhất là hàm lượng NCKH) dé từ đó thúc day hình thành DHNC. Công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của chính sách đến nghiên cứu của trường DH đó là nghiên cứu “The Impact of Scientific and Technological Policy Interventions on University Research: Evidence from the National Nano-Technology Initiative” [74]. Nghiên cứu nay đã xem xét sáng kiến công nghệ Nano quốc gia (NNI) như là một sự can thiệp chính sách nhằm mục đích thương mại hóa công nghệ và một hướng nghiên cứu tập trung đề thúc đầy tăng trưởng kinh tế quốc gia.

Nghiên cứu cũng cho thấy NNI có mang lại những hậu quả không lường trước được trong dòng chảy kiến thức của ngành DH và đặc điểm của nghiên cứu DH về công nghệ Nano, thông qua phân tích các bằng sáng chế về NNI của Hoa Kỳ được đệ trình từ năm 1996 đến năm 2007, các trường DH đã tăng đáng kể lưu lượng tri thức từ ngành công nghiệp, giảm sự phân nhánh nhưng NNI lại thu hẹp phạm vi nghiên cứu, và it có khả năng tạo ra công nghệ. Nghiên cứu cũng đã cho thay những phát hiện mới: Ít nhất trong trường hợp của NNI, các chương trình KH&CN của Chính phủ có thé làm tăng hiệu quả nghiên cứu của trường ĐH. Đây là nghiên cứu gần với chủ đề luận án, nghiên cứu đã đề cập đến sự tác động can thiệp của chính sách cụ thê (chính sách về NND vào nghiên cứu của trường DH, một số khái niệm liên quan đến chủ đề luận án cũng được đề cập trong nghiên cứu như: tác động; chính sách; chính sách KH&CN. Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ tập trung phân tích sự tác động của chính sách về NNI đến ban chất nghiên cứu của trường DH, sự can thiệp của nhà nước bằng chính sách này nhằm thương mại hóa các sản phẩm công nghệ của trường DH mà chưa chỉ ra tác động của chính sách này đến việc hình thành DHNC.

Hay nghiên cứu “Research Universities: The core of the US system of science and technology” [66]. Nghiên cứu nay bàn về chính sách hỗ trợ tài chính của Chính phủ cho nghiên cứu của trường DH từ năm 1950 đến giữa những năm 1970, thông qua việc thành lập các chương trình nhằm khuyến khích hợp tác NCKH với trường ĐH và coi đây như là một phương 20 tiện dé thiết lập mối quan hệ giữa các trường DH và ngành công nghiệp, tuy nhiên lại phải đối mặt với một số thách thức đáng kê dé có thể tiếp tục giữ vị trí hàng đầu trong việc tìm kiếm kiến thức. Có thể thấy, nghiên cứu mới chỉ tiếp cận dưới góc độ chính sách tài chính mà chưa bàn đến các chính sách khác có liên quan nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đây nghiên cứu của trường DH, tuy nhiên nghiên cứu cũng đã đề cập đến một số khái niệm liên quan đến chủ đề của luận án như KH&CN, chính sách tài chính. Nghiên cứu có tên “Policies and Universities in Knowledge in Developing Countries: Inclusive Development and" Developmental Universities” [67], lại đề cập đến loại chính sách được gọi là "dân chủ hóa các chính sách tri thức" và chỉ ra cách chính sách này hoạt động trong thực tiễn và khám phá cách mà trường ĐH, một phần quan trọng của bất kỳ hệ thống đổi mới quốc gia nào, có thé đóng một vai trò trong sự nổi lên và củng có sự dân chủ hóa tri thức.

Các trường ĐH nắm lấy vai trò đó có thể được coi là các trường ĐH phát triển. Nghiên cứu đã đi phân tích tại một trường hợp ở Uruguay minh họa một sự chuyên đổi liên tục hướng tới một trường DH phat triển. Kết quả đạt của nghiên cứu này đã chỉ ra được vai trò của chính sách dân chu hóa tri thức của trường DH trong hệ thống đổi mới quốc gia nhưng nghiên cứu này lại chưa bàn đến tác động của chính sách KH&CN đến hoạt động KH&CN để thúc đây hiệu quả hoạt động KH&CN của trường DH. Cũng đã có những công trình ban về vai trò của trường DH trong hệ thống giáo duc quốc gia, đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cứu có tên “Educational Activity of National Research Universities as a Basis for Integration of Science, Education and Industry in Regional Research and Educational Complexes” [72].

Nghiên cứu này đã bàn đến việc hội nhập các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp, KH&CN ở Nga, thông qua nghiên cứu khảo sát trường hợp cụ thể về hoạt động giáo dục tại hai trường ĐH quốc gia - ĐH Tomsk và ĐH Bách khoa Tomsk. Nghiên cứu chỉ ra được sự gan két trường DH va các cơ sở nghiên cứu nhằm thực hiện cải cách hệ thống giáo dục của liên bang Nga và có đề cập đến một số khái niệm liên quan đến chủ đề của luận án như khái niệm khoa học; ĐHNC, nhưng lại không đề cập đến chính sách KH&CN nào, cũng như tác động của chính sách KH&CN đến trường ĐH để thúc day hình thành thành DHNC. Hay“Research of university science and 21 technology innovation system based on low-carbon economy” [77], nghiên cứu nay bàn về một số van đề đôi mới KH&CN của trường DH hiệu quả hơn, thông qua việc đề xuất xây dựng hệ thống đổi mới công nghệ quốc gia. Để làm được điều đó, các trường ĐH cần xây dựng đội ngũ sáng tạo và tô chức học tập trên nền tảng phần cứng sáng tạo cũng như tăng cường nền tảng phần mềm để các trường ĐH là những hệ thống sáng tạo có sự tham gia của các nhà khoa học và quản lý tri thức.

Nghiên cứu này đã có nhắc tới một số khái niệm liên quan đến chủ đề của luận án đó là KH&CN. Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc xem xét hệ thong đôi mới KH&CN của các trường ĐH mà chưa có sự đánh giá tác động của hệ thống đổi mới KH&CN đến hoạt động nghiên cứu của trường ĐH. Ngoài ra, còn phải kể đến các tác giả Muskin J., Jack Coteen (Anh), Wu. L, Cristopher John Hull (Hoa Kỳ).

Các công trình nghiên cứu của các tác giả ké trên tập trung vào các vấn đề: Chức năng của trường ĐH về KH&CN; đặc điểm công tác KH&CN trong trường ĐH, các hình thức tổ chức hoạt động KH&CN trong trường ĐH, các mối liên kết của trường ĐH với các khu vực công nghiệp qua việc xây dựng các khu khoa học, đặc khu công nghệ, dịch vụ tư vấn CGCN trong trường DH, các cơ sở va phương tiện cho NCKH, đánh giá chất lượng nghiên cứu, cơ chế hoạt động tự chủ của trường ĐH trong hoạt động KH&CN. Cũng có những công trình nghiên cứu về ĐHNC, trước hết là nghiên cứu có tên “Research Assessment of Research-Oriented Universities in Taiwan from 1993 to 2003” [71]. Nghiên cứu nay xem xét các hiệu suất ấn pham học thuật của các trường ĐH định hướng nghiên cứu và được minh họa bằng việc sử dụng số lượng trích dẫn, các trích dẫn trung bình bài báo. Sau đó, đánh giá số lượng ấn phẩm trong các lĩnh vực đó dé chỉ ra những giá trị của các ấn phẩm khoa học của từng trường.

Có thé nói, đây là công trình đã có cách tiếp cận khác về các tiêu chí đánh giá năng lực nghiên cứu của trường DH. Ngoài hai chỉ số quen thuộc thường được nhắc đến khi tién hành đánh giá nghiên cứu là số lượng bài báo và số lượng trích dẫn, còn xem xét trên những chỉ số khác như: tỷ lệ trích dẫn trung bình hoặc tần số trích dẫn. Các chỉ số nay dùng để kiểm tra tác động kết quả nghiên cứu của các trường DH.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Tác động của chính sách khoa học và công nghệ đến hoạt động tại đại học Thái Nguyên" phân tích những ảnh hưởng của các chính sách khoa học và công nghệ đến sự phát triển và hoạt động của trường đại học này. Tác giả chỉ ra rằng việc áp dụng các chính sách này không chỉ nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu mà còn thúc đẩy sự hợp tác giữa nhà trường và các tổ chức, doanh nghiệp. Điều này mang lại nhiều lợi ích cho sinh viên, giảng viên và cả cộng đồng, từ việc cải thiện cơ sở vật chất đến việc tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp.

Để hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa chính sách và hoạt động của các trường đại học, bạn có thể tham khảo bài viết Luận án tiến sĩ hệ thống kiểm soát gắn với kết quả hoạt động của các trường đại học công lập thực hiện cơ chế tự chủ vùng đồng bằng sông hồng. Bài viết này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về cách mà các hệ thống kiểm soát ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các trường đại học công lập trong bối cảnh tự chủ.

Khám phá thêm những khía cạnh khác của chính sách giáo dục và công nghệ sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu rõ hơn về những thách thức và cơ hội trong lĩnh vực này.