Chế độ lương hưu hàng tháng theo Luật Bảo hiểm xã hội 2014 và tác động đến đời sống người hưởng

Luận văn thạc sĩ luật học phân tích vnu ls chế độ lương hưu hàng tháng theo quy định của luật bảo hiểm xã hội năm 2014 và những tác, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

94
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ LƢƠNG HƢU HÀNG THÁNG

1.1. Khái niệm chế độ lương hưu hàng tháng

1.2. Khái niệm BHXH

1.3. Khái niệm lương hưu hàng tháng

1.4. Các loại lương hưu hàng tháng

1.5. Vai trò của lương hưu hàng tháng

1.6. Điều chỉnh pháp luật đối với lương hưu hàng tháng

1.6.1. Khái niệm và vai trò của pháp luật về lương hưu hàng tháng

1.6.2. Nguyên tắc điều chỉnh pháp luật đối với lương hưu hàng tháng

1.6.3. Nội dung điều chỉnh pháp luật đối với lương hưu hàng tháng

1.7. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ LƢƠNG HƢU HÀNG THÁNG THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT BHXH NĂM 2014 VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TỚI ĐỜI SỐNG CỦA NGƢỜI HƢỞNG LƢƠNG HƢU

2.1. Chế độ lương hưu hàng tháng theo quy định của Luật BHXH năm 2014

2.2. Lương hưu hàng tháng trong chế độ BHXH bắt buộc

2.3. Lương hưu hàng tháng trong chế độ bảo hiểm hưu trí tự nguyện

2.4. Quỹ hưu trí và tử tuất

2.5. Tiếp cận chế độ lương hưu hàng tháng theo bảo hiểm hưu trí bổ sung

2.6. Tác động của chế độ lương hưu hàng tháng theo quy định của Luật BHXH năm 2014 tới đời sống của người hưởng lương hưu

2.6.1. Tác động đến đời sống vật chất của NLĐ

2.6.2. Tác động đến đời sống tinh thần của NLĐ

2.7. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN HIỆU QUẢ CHẾ ĐỘ LƢƠNG HƢU HÀNG THÁNG THEO LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI NĂM 2014

3.1. Điều kiện đảm bảo tổ chức thực hiện hiệu quả chế độ lương hưu hàng tháng

3.2. Điều kiện về nhận thức của các chủ thể liên quan

3.3. Điều kiện về thể chế

3.4. Điều kiện về tổ chức, cán bộ làm công tác BHXH

3.5. Điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ tổ chức thực hiện chế độ lương hưu hàng tháng

3.6. Giải pháp tổ chức thực hiện hiệu quả chế độ lương hưu hàng tháng ở Việt Nam

3.6.1. Xây dựng và hoàn thiện về chế độ lương hưu hàng tháng

3.6.2. Đẩy mạnh công tác phổ biến, tuyên truyền về ý nghĩa, vai trò của chế độ lương hưu hàng tháng và pháp luật về lương hưu hàng tháng

3.6.3. Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác BHXH

3.6.4. Đầu tư cơ sở vật chất và nguồn lực tài chính phục vụ tổ chức thực hiện chế độ lương hưu hàng tháng

3.7. Tiểu kết chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

LỜI MỞ ĐẦU

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của chế độ lương hưu hàng tháng theo Luật BHXH 2014

Chế độ lương hưu hàng tháng theo Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) năm 2014 đã được thiết lập nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động (NLĐ) khi họ không còn khả năng lao động. Luật BHXH 2014 đã có nhiều thay đổi quan trọng so với các quy định trước đó, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của NLĐ và đảm bảo an sinh xã hội. Tác động của chế độ này không chỉ ảnh hưởng đến đời sống vật chất mà còn đến đời sống tinh thần của người hưởng lương hưu.

1.1. Khái niệm và vai trò của chế độ lương hưu hàng tháng

Chế độ lương hưu hàng tháng là khoản tiền mà NLĐ nhận được khi họ đủ điều kiện về tuổi tác và thời gian tham gia BHXH. Vai trò của chế độ này rất quan trọng, không chỉ giúp NLĐ có nguồn thu nhập ổn định mà còn góp phần đảm bảo an sinh xã hội, giảm bớt gánh nặng cho gia đình và cộng đồng.

1.2. Những điểm mới trong Luật BHXH 2014

Luật BHXH 2014 đã có nhiều điểm mới như quy định về mức đóng, điều kiện hưởng lương hưu, và cách tính lương hưu. Những thay đổi này nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho NLĐ trong việc tiếp cận chế độ lương hưu, đồng thời đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong việc chi trả.

II. Vấn đề và thách thức trong việc thực hiện chế độ lương hưu hàng tháng

Mặc dù chế độ lương hưu hàng tháng theo Luật BHXH 2014 đã được thiết lập, nhưng việc thực hiện vẫn gặp nhiều thách thức. Các vấn đề như mức lương hưu thấp, sự thiếu hụt thông tin về quyền lợi, và sự không đồng đều trong việc tiếp cận chế độ lương hưu vẫn tồn tại.

2.1. Mức lương hưu và ảnh hưởng đến đời sống vật chất

Mức lương hưu hiện tại vẫn chưa đủ để đảm bảo cuộc sống cho nhiều NLĐ. Theo thống kê, phần lớn người hưởng lương hưu phải sống trong tình trạng khó khăn, không đủ chi tiêu cho nhu cầu cơ bản hàng ngày.

2.2. Thiếu thông tin và nhận thức về quyền lợi

Nhiều NLĐ chưa hiểu rõ về quyền lợi của mình trong chế độ lương hưu. Việc thiếu thông tin và sự hướng dẫn từ các cơ quan chức năng đã dẫn đến tình trạng nhiều người không biết cách tham gia hoặc hưởng lương hưu.

III. Phương pháp cải thiện chế độ lương hưu hàng tháng hiệu quả

Để cải thiện chế độ lương hưu hàng tháng, cần có những phương pháp và giải pháp cụ thể. Việc nâng cao nhận thức, cải thiện mức lương hưu, và tăng cường sự tham gia của NLĐ vào BHXH là những yếu tố quan trọng.

3.1. Nâng cao nhận thức về chế độ lương hưu

Cần tổ chức các chương trình tuyên truyền, giáo dục để NLĐ hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong chế độ lương hưu. Việc này sẽ giúp NLĐ chủ động hơn trong việc tham gia BHXH.

3.2. Cải thiện mức lương hưu và điều kiện hưởng

Cần xem xét điều chỉnh mức lương hưu sao cho phù hợp với mức sống hiện tại. Đồng thời, cần đơn giản hóa các thủ tục để NLĐ dễ dàng tiếp cận chế độ lương hưu hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về chế độ lương hưu

Nghiên cứu về chế độ lương hưu hàng tháng theo Luật BHXH 2014 đã chỉ ra nhiều vấn đề cần cải thiện. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc cải thiện chế độ lương hưu không chỉ giúp nâng cao đời sống vật chất mà còn cải thiện đời sống tinh thần của NLĐ.

4.1. Tác động đến đời sống vật chất của NLĐ

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng chế độ lương hưu hàng tháng đã giúp nhiều NLĐ có nguồn thu nhập ổn định, từ đó cải thiện chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều người chưa được hưởng lợi từ chế độ này.

4.2. Tác động đến đời sống tinh thần của NLĐ

Chế độ lương hưu không chỉ ảnh hưởng đến đời sống vật chất mà còn tác động đến tâm lý của NLĐ. Việc có một khoản thu nhập ổn định giúp NLĐ cảm thấy an tâm hơn về tương lai, giảm bớt lo lắng về tài chính.

V. Kết luận và tương lai của chế độ lương hưu hàng tháng

Chế độ lương hưu hàng tháng theo Luật BHXH 2014 có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an sinh xã hội. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả, cần có những cải cách và điều chỉnh phù hợp. Tương lai của chế độ này phụ thuộc vào sự quan tâm và đầu tư từ Nhà nước cũng như sự chủ động của NLĐ.

5.1. Định hướng phát triển chế độ lương hưu

Cần có những chính sách rõ ràng và cụ thể để phát triển chế độ lương hưu, đảm bảo quyền lợi cho NLĐ. Việc này không chỉ giúp nâng cao đời sống của NLĐ mà còn góp phần ổn định xã hội.

5.2. Tầm quan trọng của sự tham gia của NLĐ

Sự tham gia tích cực của NLĐ vào BHXH là yếu tố quyết định đến sự thành công của chế độ lương hưu. Cần khuyến khích NLĐ tham gia và hiểu rõ quyền lợi của mình để đảm bảo an sinh xã hội bền vững.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls chế độ lương hưu hàng tháng theo quy định của luật bảo hiểm xã hội năm 2014 và những tác động tới đời sống của người hưởng lương hưu

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những vấn đề lý luận về chế độ lương hưu hàng tháng. Chương 2: Thực trạng chế độ lương hưu hàng tháng theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và những tác động của nó tới đời sống của người hưởng lương hưu. Chương 3: Giải pháp tổ chức thực hiện hiệu quả chế độ lương hưu hàng tháng theo Luật BHXH năm 2014. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ LƢƠNG HƢU HÀNG THÁNG 1.

Khái niệm chế độ lƣơng hƣu hàng tháng 1. Khái niệm BHXH Thực tế cuộc sống từ khi tham gia cho đến khi chấm dứt quan hệ lao động luôn tiềm ẩn những “rủi ro” đến từ các nguyên nhân như: sức khỏe, bệnh tật, tai nạn, tuổi tác, ảnh hưởng của tự nhiên, khủng hoảng kinh tế… khiến NLĐ không thể tiếp tục hoặc bị giảm sút năng lực làm việc. Tuy vậy những nhu cầu thiết yếu của con người không vì thế mà mất đi, nhiều trường hợp còn tăng lên hoặc xuất hiện nhu cầu mới. Điều đó khiến cho khả năng tự giải quyết rủi ro của NLĐ là hết sức khó khăn, cần có sự chung tay giúp đỡ từ cộng đồng và xã hội.

Trong quá trình phát triển xã hội, đặc biệt là từ sau cuộc cách mạng công nghiệp, hệ thống BHXH đã có những cơ sở để hình thành và phát triển. Mối quan hệ kinh tế giữa người làm thuê và chủ sử dụng lao động ngày càng trở nên phức tạp, xuất hiện những mâu thuẫn về lợi ích. NLĐ muốn mình được đảm bảo quyền lợi ngày càng nhiều hơn và tốt hơn, còn chủ sử dụng lao động lại mong muốn có được lợi ích kinh tế cao nhất, chi phí bỏ ra thấp nhất. Sự mâu thuẫn này đòi hỏi phải có một bên thứ ba đứng ra can thiệp và điều hòa, đó chính là Nhà nước.

Nhà nước buộc cả người làm thuê và giới chủ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng, được tính toán dựa trên xác suất rủi ro xảy ra đối với NLĐ. Số tiền đóng góp đó hình thành một quỹ tiền tệ tập trung; ngoài hai khoản thu chính từ người làm thuê và giới chủ, quỹ này còn được bổ sung từ ngân sách nhà nước khi cần thiết. Sự vận hành của quỹ thể hiện rõ nét tính đoàn kết, san sẻ rủi ro trong cộng đồng không phân biệt 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com già trẻ, nam nữ, lao động phổ thông, lao động kỹ thuật, người khỏe, người yếu. Như vậy, BHXH xuất hiện là một tất yếu khách quan, là nhu cầu và quyền lợi chính đáng của NLĐ.

BHXH được thừa nhận là một trong những quyền lợi của con người được quy định tại Khoản 1, Điều 25 Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 của Đại Hội đồng Liên Hợp quốc: “Ai cũng có quyền được hưởng một mức sống khả quan về phương diện sức khỏe và an lạc cho bản thân và gia đình kể cả thức ăn, quần áo, nhà ở, y tế và những dịch vụ cần thiết, ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tật nguyền, góa bụa, già yếu hay thiếu phương kế sinh nhai do những hoàn cảnh ngoài ý muốn”. Thuật ngữ “BHXH” lần đầu tiên chính thức được sử dụng làm tiêu đề cho một văn bản pháp luật vào năm 1935 (Luật An sinh xã hội năm 1935 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ). Thuật ngữ này xuất hiện trở lại trong một đạo luật được thông qua tại New Zealand năm 1938. Năm 1941 trong thời gian chiến tranh thế giới thứ hai, thuật ngữ này được nhắc đến trong Hiến chương Đại Tây Dương (the Atlantic Charter of 1941).

ILO (International Labol Organization) cũng chấp nhận thuật ngữ BHXH và đưa ra định nghĩa về thuật ngữ này trong Công ước 102 về Quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội năm 1952. Theo đó BHXH được định nghĩa là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để đối phó với khó khăn về kinh tế - xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm nhiều về thu nhập, gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con. Dưới góc độ chính sách, BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo vật chất cho NLĐ khi họ không may gặp phải các rủi ro, góp phần đảm bảo an toàn xã hội. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dưới góc độ pháp lý, BHXH là một chế định bảo vệ NLĐ, sử dụng nguồn tiền đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và được tài trợ, bảo hộ của Nhà nước nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hết tuổi lao động hoặc chết.

Theo Luật BHXH của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2014, BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH (khoản 1, Điều 3). Nhắc đến BHXH là nhắc đến một trụ cột cơ bản, là “xương sống” của hệ thống an sinh xã hội mỗi quốc gia; không có BHXH thì không thể có một nền an sinh xã hội vững mạnh. Trước hết BHXH đảm bảo ổn định cuộc sống cho NLĐ và gia đình họ, đặc biệt là người làm công ăn lương. Khi có sự cố làm thu nhập bình thường bị hao hụt hoặc không có thu nhập (ốm đau, tai nạn, hết độ tuổi lao động.); người tham gia bảo hiểm sẽ nhận được một số tiền từ quỹ BHXH nhằm mục đích san sẻ, hỗ trợ giúp NLĐ có thể giảm bớt khó khăn về mặt tài chính.

Bên cạnh đó, các chế độ BHXH còn gián tiếp góp phần tăng năng suất và hiệu quả lao động, thúc đẩy mối quan hệ ba bên giữa Nhà nước – NLĐ và NSDLĐ trở nên gắn bó hơn. Khi tham gia BHXH, NLĐ sẽ phát huy tinh thần trách nhiệm, gắn bó tận tình với công việc; làm cho mối quan hệ thị trường trở nên lành mạnh hơn, thị trường sức lao động vận động theo hướng tích cực góp phần xây dựng và có kế hoạch phát triển chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường. BHXH thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp; tạo cho những người bất hạnh có thêm điều kiện, động lực cần thiết để khắc phục những biến cố xã hội, nhanh chóng hòa nhập cộng đồng. BHXH không chỉ tạo sự an tâm, tin tưởng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của NLĐ vào chính quyền mà còn tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, giữa con người với con người nhằm hướng tới xây dựng một xã hội nhân văn nhân ái không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, vị thế xã hội.

Ngoài ra phần quỹ BHXH nhàn rỗi có thể được sử dụng đầu tư phát triển kinh tế, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho NLĐ. Khái niệm lương hưu hàng tháng Mỗi chúng ta sinh ra phần lớn đều trải qua các giai đoạn sinh - lão - bệnh - tử trong cuộc đời. Tương ứng với mỗi giai đoạn này con người có nhu cầu tài chính và khả năng thu nhập khác nhau. Đảm bảo cho người về hưu có nguồn thu nhập đầy đủ và ổn định là một trong những chính sách quan trọng nhất của mọi chính phủ trên toàn cầu.

Tại các quốc gia thuộc OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế), chương trình hưu trí công và trợ cấp cho người cao tuổi chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng chi tiêu của Chính phủ. Cơ sở và quá trình hình thành chế độ lương hưu hàng tháng trong hệ thống BHXH - Cơ sở hình thành: Quan điểm về chế độ hưu trí dựa trên các căn cứ về cơ chế sinh học (độ tuổi, sức lao động) và điều kiện kinh tế - xã hội. Cơ sở sinh học là cơ sở khách quan nhất vì nó liên quan đến yếu tố tự nhiên trong bản thân con người như độ tuổi, giới tính, sự suy giảm sức khỏe tự nhiên. Tuổi già, giới tính chịu sự chi phối của các quá trình diễn biến sinh lý trong cơ thể của con người cùng điều kiện và môi trường sống, do đó ở các quốc gia khác nhau quy định về độ tuổi nghỉ hưu cũng có sự khác biệt.

Trong chế độ hưu trí, tuổi nghỉ hưu của nam giới thường cao hơn nữ giới vì khả năng lao động của nữ giới bị suy giảm khá nhiều sau khi sinh đẻ và nuôi con nhỏ. Ngoài ra các yếu tố khác như khả năng sức khỏe, ốm đau, bệnh tật… xảy ra sẽ làm suy giảm khả năng lao động của NLĐ. Bởi lẽ đó các nhà làm luật 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cần phải chú ý đến các yếu tố này để định ra độ tuổi nghỉ hưu cho NLĐ khi bị suy giảm khả năng lao động. Điều kiện và môi trường lao động là một trong những cơ sở quan trọng khi thiết lập chính sách về bảo hiểm hưu trí.

Những yếu tố này sẽ liên quan đến việc xác định độ tuổi khi nghỉ hưu của NLĐ, đến việc phân loại ngành nghề để xác định mức trợ cấp và thời gian trợ cấp… NLĐ làm việc trong môi trường độc hại, nguy hiểm hoặc có tính chất đặc biệt sẽ được tạo điều kiện nghỉ hưu sớm hơn so với NLĐ làm việc trong điều kiện bình thường. Cơ sở kinh tế - xã hội biểu hiện ở trình độ dân trí và nhận thức xã hội của NLĐ cũng như NSDLĐ, ở tiềm lực và sức mạnh kinh tế của đất nước, ở khả năng tổ chức và quản lý an sinh xã hội của mỗi quốc gia… Những yếu tố này không chỉ quyết định một quốc gia nào đó có thể thực hiện được bao nhiêu chế độ BHXH mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung và khả năng thực thi của từng chế độ. Nền kinh tế phát triển, thu nhập của NLĐ ngày càng được nâng cao thì khả năng đóng góp cho quỹ BHXH sẽ ngày càng nhiều, từ đó có thể nâng cao được các mức hưởng trợ cấp BHXH trong từng chế độ và ngược lại. Cơ sở kinh tế - xã hội còn ảnh hưởng trực tiếp đến các chính sách cứu trợ xã hội trong hệ thống an sinh nói chung.

- Quá trình hình thành: Hưu trí là một trong những chế độ được thực hiện sớm nhất trong lịch sử tồn tại và phát triển của BHXH.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ