Chương 1: Những vấn đề lý luận về chế độ lương hưu hàng tháng. Chương 2: Thực trạng chế độ lương hưu hàng tháng theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và những tác động của nó tới đời sống của người hưởng lương hưu. Chương 3: Giải pháp tổ chức thực hiện hiệu quả chế độ lương hưu hàng tháng theo Luật BHXH năm 2014. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ LƢƠNG HƢU HÀNG THÁNG 1.
Khái niệm chế độ lƣơng hƣu hàng tháng 1. Khái niệm BHXH Thực tế cuộc sống từ khi tham gia cho đến khi chấm dứt quan hệ lao động luôn tiềm ẩn những “rủi ro” đến từ các nguyên nhân như: sức khỏe, bệnh tật, tai nạn, tuổi tác, ảnh hưởng của tự nhiên, khủng hoảng kinh tế… khiến NLĐ không thể tiếp tục hoặc bị giảm sút năng lực làm việc. Tuy vậy những nhu cầu thiết yếu của con người không vì thế mà mất đi, nhiều trường hợp còn tăng lên hoặc xuất hiện nhu cầu mới. Điều đó khiến cho khả năng tự giải quyết rủi ro của NLĐ là hết sức khó khăn, cần có sự chung tay giúp đỡ từ cộng đồng và xã hội.
Trong quá trình phát triển xã hội, đặc biệt là từ sau cuộc cách mạng công nghiệp, hệ thống BHXH đã có những cơ sở để hình thành và phát triển. Mối quan hệ kinh tế giữa người làm thuê và chủ sử dụng lao động ngày càng trở nên phức tạp, xuất hiện những mâu thuẫn về lợi ích. NLĐ muốn mình được đảm bảo quyền lợi ngày càng nhiều hơn và tốt hơn, còn chủ sử dụng lao động lại mong muốn có được lợi ích kinh tế cao nhất, chi phí bỏ ra thấp nhất. Sự mâu thuẫn này đòi hỏi phải có một bên thứ ba đứng ra can thiệp và điều hòa, đó chính là Nhà nước.
Nhà nước buộc cả người làm thuê và giới chủ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng, được tính toán dựa trên xác suất rủi ro xảy ra đối với NLĐ. Số tiền đóng góp đó hình thành một quỹ tiền tệ tập trung; ngoài hai khoản thu chính từ người làm thuê và giới chủ, quỹ này còn được bổ sung từ ngân sách nhà nước khi cần thiết. Sự vận hành của quỹ thể hiện rõ nét tính đoàn kết, san sẻ rủi ro trong cộng đồng không phân biệt 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com già trẻ, nam nữ, lao động phổ thông, lao động kỹ thuật, người khỏe, người yếu. Như vậy, BHXH xuất hiện là một tất yếu khách quan, là nhu cầu và quyền lợi chính đáng của NLĐ.
BHXH được thừa nhận là một trong những quyền lợi của con người được quy định tại Khoản 1, Điều 25 Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 của Đại Hội đồng Liên Hợp quốc: “Ai cũng có quyền được hưởng một mức sống khả quan về phương diện sức khỏe và an lạc cho bản thân và gia đình kể cả thức ăn, quần áo, nhà ở, y tế và những dịch vụ cần thiết, ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tật nguyền, góa bụa, già yếu hay thiếu phương kế sinh nhai do những hoàn cảnh ngoài ý muốn”. Thuật ngữ “BHXH” lần đầu tiên chính thức được sử dụng làm tiêu đề cho một văn bản pháp luật vào năm 1935 (Luật An sinh xã hội năm 1935 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ). Thuật ngữ này xuất hiện trở lại trong một đạo luật được thông qua tại New Zealand năm 1938. Năm 1941 trong thời gian chiến tranh thế giới thứ hai, thuật ngữ này được nhắc đến trong Hiến chương Đại Tây Dương (the Atlantic Charter of 1941).
ILO (International Labol Organization) cũng chấp nhận thuật ngữ BHXH và đưa ra định nghĩa về thuật ngữ này trong Công ước 102 về Quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội năm 1952. Theo đó BHXH được định nghĩa là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để đối phó với khó khăn về kinh tế - xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm nhiều về thu nhập, gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con. Dưới góc độ chính sách, BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo vật chất cho NLĐ khi họ không may gặp phải các rủi ro, góp phần đảm bảo an toàn xã hội. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dưới góc độ pháp lý, BHXH là một chế định bảo vệ NLĐ, sử dụng nguồn tiền đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và được tài trợ, bảo hộ của Nhà nước nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hết tuổi lao động hoặc chết.
Theo Luật BHXH của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2014, BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH (khoản 1, Điều 3). Nhắc đến BHXH là nhắc đến một trụ cột cơ bản, là “xương sống” của hệ thống an sinh xã hội mỗi quốc gia; không có BHXH thì không thể có một nền an sinh xã hội vững mạnh. Trước hết BHXH đảm bảo ổn định cuộc sống cho NLĐ và gia đình họ, đặc biệt là người làm công ăn lương. Khi có sự cố làm thu nhập bình thường bị hao hụt hoặc không có thu nhập (ốm đau, tai nạn, hết độ tuổi lao động.); người tham gia bảo hiểm sẽ nhận được một số tiền từ quỹ BHXH nhằm mục đích san sẻ, hỗ trợ giúp NLĐ có thể giảm bớt khó khăn về mặt tài chính.
Bên cạnh đó, các chế độ BHXH còn gián tiếp góp phần tăng năng suất và hiệu quả lao động, thúc đẩy mối quan hệ ba bên giữa Nhà nước – NLĐ và NSDLĐ trở nên gắn bó hơn. Khi tham gia BHXH, NLĐ sẽ phát huy tinh thần trách nhiệm, gắn bó tận tình với công việc; làm cho mối quan hệ thị trường trở nên lành mạnh hơn, thị trường sức lao động vận động theo hướng tích cực góp phần xây dựng và có kế hoạch phát triển chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường. BHXH thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp; tạo cho những người bất hạnh có thêm điều kiện, động lực cần thiết để khắc phục những biến cố xã hội, nhanh chóng hòa nhập cộng đồng. BHXH không chỉ tạo sự an tâm, tin tưởng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của NLĐ vào chính quyền mà còn tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, giữa con người với con người nhằm hướng tới xây dựng một xã hội nhân văn nhân ái không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, vị thế xã hội.
Ngoài ra phần quỹ BHXH nhàn rỗi có thể được sử dụng đầu tư phát triển kinh tế, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho NLĐ. Khái niệm lương hưu hàng tháng Mỗi chúng ta sinh ra phần lớn đều trải qua các giai đoạn sinh - lão - bệnh - tử trong cuộc đời. Tương ứng với mỗi giai đoạn này con người có nhu cầu tài chính và khả năng thu nhập khác nhau. Đảm bảo cho người về hưu có nguồn thu nhập đầy đủ và ổn định là một trong những chính sách quan trọng nhất của mọi chính phủ trên toàn cầu.
Tại các quốc gia thuộc OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế), chương trình hưu trí công và trợ cấp cho người cao tuổi chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng chi tiêu của Chính phủ. Cơ sở và quá trình hình thành chế độ lương hưu hàng tháng trong hệ thống BHXH - Cơ sở hình thành: Quan điểm về chế độ hưu trí dựa trên các căn cứ về cơ chế sinh học (độ tuổi, sức lao động) và điều kiện kinh tế - xã hội. Cơ sở sinh học là cơ sở khách quan nhất vì nó liên quan đến yếu tố tự nhiên trong bản thân con người như độ tuổi, giới tính, sự suy giảm sức khỏe tự nhiên. Tuổi già, giới tính chịu sự chi phối của các quá trình diễn biến sinh lý trong cơ thể của con người cùng điều kiện và môi trường sống, do đó ở các quốc gia khác nhau quy định về độ tuổi nghỉ hưu cũng có sự khác biệt.
Trong chế độ hưu trí, tuổi nghỉ hưu của nam giới thường cao hơn nữ giới vì khả năng lao động của nữ giới bị suy giảm khá nhiều sau khi sinh đẻ và nuôi con nhỏ. Ngoài ra các yếu tố khác như khả năng sức khỏe, ốm đau, bệnh tật… xảy ra sẽ làm suy giảm khả năng lao động của NLĐ. Bởi lẽ đó các nhà làm luật 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cần phải chú ý đến các yếu tố này để định ra độ tuổi nghỉ hưu cho NLĐ khi bị suy giảm khả năng lao động. Điều kiện và môi trường lao động là một trong những cơ sở quan trọng khi thiết lập chính sách về bảo hiểm hưu trí.
Những yếu tố này sẽ liên quan đến việc xác định độ tuổi khi nghỉ hưu của NLĐ, đến việc phân loại ngành nghề để xác định mức trợ cấp và thời gian trợ cấp… NLĐ làm việc trong môi trường độc hại, nguy hiểm hoặc có tính chất đặc biệt sẽ được tạo điều kiện nghỉ hưu sớm hơn so với NLĐ làm việc trong điều kiện bình thường. Cơ sở kinh tế - xã hội biểu hiện ở trình độ dân trí và nhận thức xã hội của NLĐ cũng như NSDLĐ, ở tiềm lực và sức mạnh kinh tế của đất nước, ở khả năng tổ chức và quản lý an sinh xã hội của mỗi quốc gia… Những yếu tố này không chỉ quyết định một quốc gia nào đó có thể thực hiện được bao nhiêu chế độ BHXH mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung và khả năng thực thi của từng chế độ. Nền kinh tế phát triển, thu nhập của NLĐ ngày càng được nâng cao thì khả năng đóng góp cho quỹ BHXH sẽ ngày càng nhiều, từ đó có thể nâng cao được các mức hưởng trợ cấp BHXH trong từng chế độ và ngược lại. Cơ sở kinh tế - xã hội còn ảnh hưởng trực tiếp đến các chính sách cứu trợ xã hội trong hệ thống an sinh nói chung.
- Quá trình hình thành: Hưu trí là một trong những chế độ được thực hiện sớm nhất trong lịch sử tồn tại và phát triển của BHXH.