Mở đầu. - Chương 2: Tổng quan lý thuyết. - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. - Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
- Chương 5: Kết luận và kiến nghị. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT Trong chương này tác giả trình bày cơ sở lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, thể chế, năng lực thể chế, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI, lược khảo các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có lên quan đến đề tài, phân tích đánh giá từ đó đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất.1 Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 2.1 Theo các tổ chức trên thế giới Tổ chức kinh tế thế giới (World Trade Organization, 1996) định nghĩa đầu tư trực tiếp như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là công ty mẹ và các tài sản được gọi là công ty con hay chi nhánh công ty”. Quyền kiểm soát là dấu hiệu để phân biệt FDI với các hoạt động đầu tư khác. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (Balance of Payments Manual, 1993): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”. TheoTổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD Benchmark Definition of Foreign Direct Investment - 4th Edition, 2008):“FDI có thể thực hiện bằng các cách như: thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; tham gia vào một doanh nghiệp mới; cấp tín dụng dài hạn (>5 năm).
Để có quyền kiểm soát nhà đầu tư cần nắm từ 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trở lên”. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Hai định nghĩa trên nhấn mạnh đến các mục tiêu thực hiện các lợi ích dài hạn của một chủ thể cư trú tại một nước, được gọi là nhà đầu tư trực tiếp thông qua một chủ thể khác cư trú ở một nước khác, gọi là doanh nghiệp nhận đầu tư trực tiếp. Mục tiêu lợi ích dài hạn đòi hỏi phải có một mối quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp nhận đầu tư trực tiếp, đồng thời nhà đầu tư có một mức độ ảnh hưởng đáng kể đối với việc quản lý doanh nghiệp này.2 Theo pháp luật tại Việt Nam Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 do Quốc hội ban hành ngày 26/11/2014 không đưa ra khái niệm cụ thể về đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tuy nhiên, Luật có đưa ra các khái niệm “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư” và “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam” (Luật đầu tư, 2014, trang 2).
Từ hai khái niệm trên có thể hiểu FDI là hình thức các nhà đầu tư có thể là cá nhân có quốc tịch nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động bỏ vốn đầu tư thực hiện dự án tại Việt Nam thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế theo pháp luật Việt Nam.2 Vai trò của FDI 2.1 FDI góp phần bổ sung một lượng vốn lớn cho đầu tư phát triển. Theo thuyết “cái vòng luẩn quẩn” và “cú huých từ bể ngoài” của Samuelson, có 4 nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế là nguồn nhân lực, tư bản, kỹ thuật và tài nguyên thiên nghiên. Các yếu tố này ở các nước đang phát triển đều còn rất hạn chế. Chính vì vậy các nước đang phát triển ngày càng khó khăn và cứ vướng mãi vào cái vòng luẩn quẩn của sự nghèo khổ.
Để bước ra khỏi cái vòng luẩn quẩn trên, theo Samuelsoncác nước đang phát triển cần phải có cú huých từ bên ngoài thông qua thu hút vốn đầu tư từbên ngoài, trong đó có hình thức FDI. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Chuyển giao công nghệ hiện đại. Đối với các nước đang phát triển, công nghệ trong sản xuất còn ở mức cũ và lạc hậu, phải nhập khẩu công nghệ từ các nước phát triển hơn nhưng nguồn vốn trong nước rất hạn chế không cho phép các nước này nhập khẩu được công nghệ. Nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư thường sẽ áp dụng các tiến bộ về công nghệ trong quá trình sản xuất, quản lý, từ đó các nước đang phát triển có cơ hội học hỏi, chuyển giao các công nghệ sản xuất, quản lý hiện đại.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực.
Nguồn vốn FDI thường tập trung vào lĩnh vực dịch vụ và sản xuất công nghiệp, qua đó góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực tại địa phương. Tại Việt Nam, vốn FDI là một nhân tố quan trọng đóng góp rất lớn đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.4 FDI góp phần nâng cao trình độ nhân lực Hoạt động sản xuất công nghiệp với các thiết bị, máy móc hiện đại đòi hỏi lực lượng lớn lao động có trình độ chuyên môn cao. Việc đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn người lao động được các doanh nghiệp FDI quan tâm, góp phần cải thiện năng suất làm việc.5 Củng cố và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, đẩy nhanh tiến trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Trong các hoạt động kinh tế đối ngoại, hoạt động đầu tư nước ngoài ngày càng có ý nghĩa và vai trò quan trọng khi góp phần thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại khác phát triển.
Quan hệ thương mại của các nước mở rộng đầu tư theo quá trình phát triển của các doanh nghiệp có vốn FDI. Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp này có nhu cầu nhập khẩu nguyên vật liệu và xuất khẩu sản phẩm, các nước nhận đầu tư được mở rộng cả về chủng loại hàng hóa cũng như thị trường nhờ rất nhiều vào các doanh nghiệp có vốn FDI.3 Các yếu tố ảnh hƣởng đến thu hút vốn FDI Có nhiều yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn FDI của các địa phương như điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, yếu tố quy mô thị trường, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 nguồn lao động có sẵn, quy mô ngành công nghiệp hỗ trợ, cơ sở hạ tầng và thể chế. Ở nghiên cứu này, tác giả tập trung phân tích tác động của yếu tố năng lực thể chế, cơ chế chính sách của các tỉnh thành tới việc thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Năng lực thể chế, cơ chế chính sách được thể hiện qua chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI).
Nguyễn Quốc Việt và cộng sự (Việt, Chị Thị, Trần Thị Giáng, & Phạm Thị, 2014) nghiên cứu định lượng tác động của năng lực thể chế các địa phương tới khả năng thu hút FDI. Bài nghiên cứu phân tích tác động của các biến số là thành phần của chí số PCI như biến tiếp cận đất đai, tính minh bạch, chi phí thời gian, chi phí không chính thức và một số biến khác như tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh, đào tạo lao động, thiết chế pháp lý, chính sách phát triển kinh tế tư nhân. Kết quả cho thấy hầu như các biến đều có tác động đến FDI, trong đó nhóm thể chế thực thi có tác động rõ nét nhất. Nhóm này bao gồm các biến biến tiếp cận đất đai, tính minh bạch, chi phí thời gian, chi phí không chính thức.2 Thể chế và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 2.1 Khái niệm thể chế và năng lực thể chế Theo Douglas North (1990), thể chế là những luật lệ của cuộc chơi trong xã hội, là những ràng buộc do con người tạo ra để điều chỉnh và định hình các tương tác của mình.
Thể chế gồm ba thành phần là thể chế chính thức, thể chế phi chính thức và các cơ chế và biện pháp chế tài. Thể chế có thể do con người tạo ra hoặc được hình thành, tiến hóa theo thời gian. Cụ thể, theo Đào Minh Hồng (2013) “Thể chế là một cơ quan, tổ chức công với các cơ cấu và chức năng được định sẵn một cách chính thức nhằm điều chỉnh các lĩnh vực hoạt động nhất định áp dụng chung cho toàn bộ dân cư. Đối với môt quốc gia, các thể chế chính trị bao gồm chính phủ, quốc hội và các cơ quan tư pháp.
Mối quan hệ giữa các thể chế này được quy định bởi Hiến pháp” Như vậy, có thể hiểu năng lực thể chế được biểu hiện qua chất lượng tập hợp những quy tắc chính thức, các quy định không chính thức hay những nhận thức TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 chung và chất lượng của các cơ quan công quyền thực thi những quy tắc, nhận thức chung đó. Để tìm hiểu năng lực thể chế tại các địa phương tại Việt Nam hiện nay, nghiên cứu sử dụng báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam công bố hàng năm.2 Khái niệm Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thực hiện và công bố hàng năm với sự hỗ trợ của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID). Chỉ số đánh giá và xếp hạng chính quyền các tỉnh, thành của Việt Nam về chất lượng điều hành kinh tế và xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho việc phát triển doanh nghiệp tư nhân (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, 2005). Chỉ số cung cấp cho lãnh đạo địa phương những lĩnh vực cần được cải cách, do đó chỉ số PCI cấp tỉnh có thể đại diện cho năng lực thể chế tại địa phương.
Bộ dữ liệu PCI được đảm bảo tính khách quan.