phần mở đầu và kết luận luận văn có kết cấu 4 chƣơng cụ thế nhƣ sau: Chƣơng 1 Cơ sở lý luận về chất lƣợng cuộc sống nơi làm việc và động lực làm việc Chƣơng 2 Phƣơng pháp nghiên cứu 9 Chƣơng 3 Đánh giá thực trạng tác động của chất lƣợng cuộc sống nơi làm việc đến động lực làm việc của nhân viên Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Công thƣơng Việt Nam Chƣơng 4 Giải pháp nâng cao chất lƣợng cuộc sống nơi làm việc và động lực làm việc của nhân viên Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Công thƣơng Việt Nam 10 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG CUỘC SỐNG NƠI LÀM VIỆC VÀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 1. Khái quát về chất lƣợng cuộc sống nơi làm việc 1. Khái niệm Trong những năm gần đây, khái niệm về chất lƣợng cuộc sống nơi làm việc ngày càng đƣợc xác định nhƣ là một chỉ số liên quan đến tính bền vững của một tổ chức kinh doanh (Koonmee và cộng sự 2010 và Jabeen và cộng sự, 2018).
Carlson (1980) là cả mục tiêu và quá trình thực hiện liên tục để đạt đƣợc mục tiêu. Khi là mục tiêu, môi trƣờng làm việc nơi công sở hay chất lƣợng của môi trƣờng làm việc là sự cam kết của tổ chức để cải thiện công việc: tạo ra sự thu hút, sự thỏa mãn và công việc hiệu quả và môi trƣờng làm việc cho mọi ngƣời ở mọi cấp bậc của tổ chức. Khi là một quá trình, môi trƣờng làm việc nơi công sở hay chất lƣợng của môi trƣờng làm việc kêu gọi những nỗ lực để thực hiện mục tiêu này thông qua sự tham gia tích cực của tất cả các cá nhân trong tổ chức. Beukema (1987) là một mức độ cho phép nhân viên có thể sắp đặt công việc chủ động, phù hợp với sự chọn lựa, sự quan tâm và nhu cầu.
Nó là mức độ quyền lực mà một tổ chức trao cho nhân viên của nó để thực hiện công việc. Định nghĩa này nhấn mạnh đến chọn lựa của nhân viên về sự hứng thú trong khi thực hiện công việc. Robbins (1989) là quá trình mà tổ chức đáp lại nhu cầu của ngƣời lao động bằng cách phát triển thể chế để cho phép ngƣời lao động đƣợc quyền lên tiếng trong những quyết định về cuộc sống tại nơi làm việc của họ. Efraty & Sirgy (2001) là sự hài lòng của nhân viên với những nhu cầu cá nhân thông qua các nguồn lực, hoạt động và kết quả xuất phát từ sự tham gia tại nơi làm việc.
Luthans (2005) là một nỗ lực để phát triển điều kiện làm việc thêm thỏa mãn thông qua nỗ lực công tác giữa cấp quản lý và nhân viên. Môi trƣờng làm việc nơi công sở hay chất lƣợng của môi trƣờng làm việc, là những điều kiện thuận lợi trong môi trƣờng của nơi làm việc hỗ trợ và làm tăng mức độ thỏa mãn của ngƣời lao động bằng cách cung cấp cho họ những lợi ích kinh tế, sự ổn định, điều kiện làm việc, mối quan hệ giữa cá nhân tổ chức, những giá trị của cá nhân trong công việc. Môi trƣờng làm việc nơi công sở hay chất lƣợng 11 của môi trƣờng làm việc còn là một phần của chất lƣợng cuộc sống, bao gồm cảm giác của cá nhân về tổng phƣơng diện của công việc và mức ảnh hƣởng của những yếu tố này đến cuộc sống cá nhân tại nơi làm việc. Chất lƣợng cuộc sống nơi làm việc là một khái niệm phức tạp, đa chiều và trừu tƣợng (Hsu và Kernohan, 2006).
Theo Robbins (1989) chất lƣợng cuộc sống nơi làm việc là một quá trình mà tổ chức đáp ứng các nhu cầu của ngƣời lao động bằng cách phát triển các cơ chế tạo điều kiện cho ngƣời lao động có thể đƣa ra các ý kiến của mình trong việc ra các quyết định để xây dựng cuộc sống của họ trong công việc. Chất lƣợng cuộc sống nơi làm việc liên quan một cách mật thiết đến mức độ hạnh phúc của cá nhân xuất phát từ công việc của họ. Beukema (1987) cho rằng chất lƣợng cuộc sống nơi làm việc là thái độ mà nhân viên làm việc tích cực, lựa chọn công việc phù hợp với sở thích và nhu cầu của họ. Đó là quyền lợi mà tổ chức cung cấp cho nhân viên để thực hiện công việc của mình.
Điều này có nghĩa rằng nhân viên có đầy đủ quyền tự quyết định về việc làm của mình, nhằm đáp ứng nhu cầu và lợi ích cá nhân. Gani (1993) cho rằng cốt lõi của khái niệm chất lƣợng cuộc sống nơi làm việc là giá trị con ngƣời và nhấn mạnh những thay đổi một cách triệt để thông qua cải thiện hệ thống xã hội - kỹ thuật cả về vật chất lẫn tinh thần trong môi trƣờng làm việc, thiết kế và thƣờng xuyên điều chỉnh các phƣơng thức làm việc, cấu trúc phân cấp và quy trình làm việc cho phép ngƣời lao động tham gia vào vấn đề ra quyết định. Theo Van Laar và cộng sự (2007) định nghĩa chất lƣợng cuộc sống nơi làm việc là một phần của chất lƣợng cuộc sống tổng thể chịu tác động của công việc, nhân viên sẽ đánh giá công việc của họ tốt nhƣ thế nào. Tiếp theo các định nghĩa trƣớc đó, định nghĩa của Serey (2006) đƣợc xem là khá thuyết phục và đáp ứng tốt nhất môi trƣờng làm việc hiện đại.
Định nghĩa này liên quan đến một công việc có ý nghĩa và đáp ứng sự hài lòng của nhân viên. Nó bao gồm cơ hội để thể hiện năng lực và tài năng của cá nhân khi đối mặt với những tình huống thách thức, đòi hỏi phải có sáng kiến riêng biệt và sự tự định hƣớng của bản thân. Trên cơ sở kế thừa định nghĩa của Islam & Siengthai (2009) và Rethinam & Ismail (2008) nghiên cứu tổng hợp và đƣa ra khái niệm chất lƣợng cuộc sống nơi 12 làm việc phù hợp với mục tiêu nghiên cứu nhƣ sau: Chất lƣợng cuộc sống nơi làm việc là tổng hợp những điều kiện thuận lợi, hỗ trợ nơi làm việc và làm tăng mức thỏa mãn của ngƣời lao động bằng cách cung cấp cho họ những lợi ích kinh tế, sự ổn định, điều kiện làm việc, duy trì tốt mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân và với tổ chức, những giá trị cá nhân trong công việc và sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống. Các yếu tố cấu thành chất lượng cuộc sống nơi làm việc - Hệ thống lƣơng thƣởng Cơ chế trả lƣơng luôn là mối quan tâm hàng đầu của ngƣời lao động trong doanh nghiệp bên cạnh các yếu tố quan trọng khác nhƣ ngành nghề, uy tín của doanh nghiệp, môi trƣờng làm việc này cơ hội thăng tiến… Một cơ chế trả lƣơng phù hợp có tác dụng nâng cao năng suất và chất lƣợng lao động, giúp doanh nghiệp thu hút và duy trì đƣợc những cán bộ, nhân viên giỏi.
Mặt bằng lƣơng chung của xã hội của ngành và khu vực. Doanh nghiệp không chỉ chịu sức ép cạnh tranh về đầu ra của sản phẩm, dịch vụ mà còn chịu sự cạnh tranh gay gắt của các yếu tố đầu vào mà nhân lực luôn luôn là yếu tố quan trọng nhất. Doanh nghiệp phải xác định đƣợc mặt bằng mức lƣơng bình quân của các vị trí lao động trong cùng ngành và trong cùng khu vực địa lý. Điều này giúp bạn đƣa ra đƣợc các mức tiền lƣơng cạnh tranh, có khả năng thu hút và lƣu giữ nhân viên.
Tuỳ thuộc vào đặc thù kinh doanh của doanh nghiệp mà lựa chọn cách thức trả lƣơng cứng hay khoán, hoặc đồng thời cả hai. Lƣơng cứng là số tiền cố định mà doanh nghiệp trả cho ngƣời lao động hàng tháng tƣơng ứng với vị trí chức danh công việc. Lƣơng khoán là số tiền ngƣời lao động đƣợc hƣởng trên khối lƣợng, số lƣợng và chất lƣợng công việc hoàn thành. Lƣơng khoán có thể theo thời gian (giờ), hay trên đơn vị sản phẩm, hoặc trên doanh thu, thậm chí là lãi gộp trong tháng.
Mỗi cách trả lƣơng đều có ƣu điểm riêng. Lƣơng cứng đảm bảo cho ngƣời lao động cảm thấy yên tâm và ổn định trong công việc và cuộc sống, từ đó họ có thể toàn tâm, toàn ý với công việc. Lƣơng khoán lại tạo ra động lực khuyến khích, phát huy tối đa năng lực của từng ngƣời, đo đếm dễ dàng và gắn liền với kết quả lao động thông 13 qua căn cứ khoán. Thực tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên áp đụng cả hai cách trả lƣơng này.
- Điều kiện làm việc Ngày nay, cuộc sống xã hội ngày càng phát triển, đời sống vật chất đủ đầy hơn nên các cơ quan công sở càng có điều kiện tiếp cận nhiều hơn với các phƣơng tiện phục vụ công việc. Hiệu quả làm việc của các cán bộ công chức không chỉ phụ thuộc đơn thuần vào trình độ của cán bộ công chức đó mà còn phục thuộc một phần không nhỏ vào điều kiện làm việc. Khi xem xét điều kiện làm việc trong công sở cần quan tâm đến hai yếu tố sau: Khung cảnh nơi làm việc do cách bố trí nơi làm việc, môi trƣờng và các thiết bị đƣợc sử dụng tại công sở tạo nên. Khung cảnh nơi làm việc cùng với các điều kiện nghỉ ngơi, giải trí luôn luôn ảnh hƣởng đến tình trạng thể lực, tâm lý và hiệu suất lao động của cán bộ công chức.
Nếu bố trí nơi làm việc không hợp lý, các phƣơng tiện làm việc không đầy đủ thì chức chắn năng suất lao động sẽ bị giảm sút, cán bộ sẽ nhanh chóng mệt mỏi và chán nản với công việc, gây ra tình trạng thiếu gắn bó với công sở. Vì vậy, khi đề cập đến vấn đề tổ chức lao động cho khoa học trong các công sở thì một yếu tố quan trọng cần quan tâm là phải tạo đƣợc một khung cảnh làm việc thuận lợi, hợp lý. Cần nhấn mạnh rằng, đây không chỉ đơn thuần là vì lợi ích của chính cơ quan mà còn là lợi ích cho ngƣời lao động. Hai mặt lợi ích này luôn tác động lẫn nhau và cùng thúc đẩy cơ quan phát triển.
Bố trí và sắp xếp các bộ phận làm việc trong cơ quan, công sở cũng là cơ sở để tạo điều kiện cho cán bộ làm việc tốt. Nếu phòng làm việc không hợp lý thì năng suất lao động trong cơ quan sẽ bị hạn chế. Ví dụ: Nếu các đầu mối trong cơ quan vẫn có mỗi quan hệ chặt chẽ với nhau nhƣng lại bố trí ở nơi xa nhau, đi lại không thuận tiện thì việc chuyển giao văn bản, trao đổi công việc sẽ bị cản trở và do đó sẽ gây khó khăn cho kiểm tra, chỉ đạo khi cần thiết.