chương 1, tác giả đưa ra tổng quan để người đọc có thể nhanh chóng nắm bắt được vấn đề nghiên cứu trước khi đi vào nghiên cứu sâu các phần chính. Cụ thể là phần những cơ sở lý thuyết của nghiên cứu ở chương tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về tác động của đặc điểm tính cách Big-Five và lãnh đạo đạo đức đến sự hài lòng trong công việc. Tóm tắt các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài.
Từ đó, xây dựng mô hình nghiên cứu cho luân văn.1 Những đặc điểm tính cách Big – Five (The Big – Five Personality Traits) Tính cách là yếu tố quan trọng nhất của con người. Một đặc điểm tính cách có thể có ở nhiều người và một người có thể có nhiều đặc điểm tính cách. Để đoán được tính cách của một người người ta thường dựa trên hành động, lời nói và đôi khi là suy nghĩ của người đó để đưa ra kết luận về bản chất người đó. Mô hình đặc điểm tính cách Big Five dựa trên những phát hiện từ một số nhà nghiên cứu độc lập vào cuối năm 1950.
Nhưng mô hình này mới được chính thức hình thành cho tới những năm 1990. Theo nghiên cứu của Allport & Odbert (1936), hai ông đã liệt kê 17.930 danh mục từ miêu tả đặc điểm tính cách (personality traits) trong từ điển tiếng Anh, một nghiên cứu về tâm lý học và đã chia chúng thành bốn danh sách theo thứ tự chữ cái, lần đầu tiên trong số đó có khoảng 4.500 thuật ngữ mà chúng đã phân loại là các đặc điểm ổn định. Năm 1943, Cattell sử dụng danh mục từ của Allport và Odbert để làm điểm xuất phát cho mô hình cấu trúc tính cách đa đặc điểm của mình để xây dựng 171 thang đo. Ông đã phát triển một tập hợp gồm 35 cụm, xác định kết quả xuất hiện 16 nhân tố cơ bản.
Trong một nghiên cứu khác, Norman (1963) hướng đến phân loại đầy đủ các thuộc tính tính cách và tìm thấy 5 đặc điểm nổi bật của tính cách, kết quả thu được khi phân tích nhằm mục đích xem các đặc điểm nào đi cùng nhau trong bảng tự đánh giá tính cách cá nhân. Từ đó, nhiều nhà nghiên cứu tiếp theo, tiến hành khảo sát lại với nguồn dữ liệu khác nhau, các mẫu khác nhau và những công cụ khác nhau, cũng phát hiện ra 5 đặc điểm tính cách Big-Five. Goldberg (1990) một nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Oregon, sau khi tổng hợp kết quả từ nhiều nhà nghiên cứu khác nhau và chính ông TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 là người tiên phong đặt tên cho năm đặc điểm tính cách đó là “Big Five”, và bây giờ là một quy mô nhân rộng, thường được sử dụng trong kinh doanh và trong nghiên cứu tâm lý. Big – Five là tên gọi chung của các đặc điểm tính cách Big-Five, nhưng nó bao gồm năm đặc điểm nào thì ý kiến của các nhà nghiên cứu lại rất đa dạng.
Còn theo McCrae và John (1992) thì gọi 5 đặc điểm đó là hướng ngoại (extraverson), sự dễ chịu (agreeableness), tận tâm (conscientiousness), tâm lý bất ổn (neuroticism) và sẵn sàng trải nghiệm (openness to experience). Tuy tên mỗi đặc điểm này được nhiều tác giả đặt khác nhau nhưng chúng đều có chung điểm mô tả tính cách đó. Và tên của đặc điểm được nhiều người tán thành nhất là theo đề nghị của McCrae và John (1992). Digman (1990) chỉ ra rằng rất có thể tất cả chúng đều chính xác và sử dụng các tên sau đây để phân loại tính cách: hướng ngoại, ổn định cảm xúc, dễ chịu, tận tâm và sẵn sàng trải nghiệm.
Những tên gọi và định nghĩa này cũng được Barrick và Mount (1991, 1993) áp dụng nghiên cứu về mối quan hệ giữa đặc điểm tính cách Big-Five và kết quả công việc. Như đã nói ở trên, các đặc điểm tính cách Big-Five đã phát triển trong nhiều thập kỷ nghiên cứu về tính cách, phát triển từ nền tảng của Allport & Odbert (1936) và Cattell (1943) trở thành mô hình được các nhà nghiên cứu sử dụng phổ biến cho đến nay. Mô hình này đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ và được áp dụng trong hàng chục nền văn hóa, kết quả là nghiên cứu không chỉ xác nhận tính hợp lệ của nó như là một lý thuyết về tính cách mà còn thiết lập tính hợp lệ của nó ở cấp độ quốc tế. Các đặc điểm này không cung cấp giải thích hoàn toàn đầy đủ về tính cách, nhưng chúng được gọi là "Big-Five" bởi vì chúng bao gồm một phần lớn các thuật ngữ liên quan đến tính cách.
Ví dụ, đặc điểm dễ chịu bao gồm các thuật ngữ như sự TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 hào phóng, tính đáng tin cậy, và sự ấm áp (về mặt tích cực) và tính hung hăng và nóng tính (ở phía tiêu cực). Tất cả những đặc điểm này và nhiều hơn nữa, tạo nên tính “dễ chịu”. Dưới đây sẽ giải thích từng yếu tố chi tiết hơn, với các ví dụ và các thuật ngữ có liên quan để giúp ta hiểu được những khía cạnh và tính cách cá nhân mà các yếu tố này đề cập đến. Người ta ghép tên viết tắt 5 đặc điểm tính cách với các chữ cái đầu theo tiếng anh ghép thành chữ “OCEAN” (đại dương) để cho dễ nhớ.
Và nhấn mạnh rằng mỗi người đều có đầy đủ 5 mặt tính cách này với các mức độ khác nhau (từ rất thấp đến rất cao). Ý nghĩa của 5 đặc điểm tính cách Big-Five được trình bày theo thứ tự đó như sau: Sẵn sàng trải nghiệm (openness to experience) Sẵn sàng trải nghiệm (so với tư tưởng kín đáo) mô tả bề rộng, chiều sâu, mức độ độc đáo và phức tạp của cuộc sống tinh thần và kinh nghiệm của một cá nhân (John & Srivastava, 1999). Nó cũng đôi khi được gọi là trí tuệ hoặc trí tưởng tượng. Người có tính sẵn sàng trải nghiệm luôn tìm kiếm, tận hưởng những trải nghiệm, thử thách và sẵn lòng thử những ý tưởng mới, dễ bị tổn thương và có hay suy nghĩ sâu xa.
Các đặc điểm chung liên quan đến sự sẵn sàng trải nghiệm bao gồm: cá tính mạnh, giàu trí tưởng tượng, phong phú, nhiều sở thích, độc đáo, mạnh dạn, sở thích đa dạng, thông minh, sáng tạo, hay tò mò, tri thức, trí tuệ, phức tạp / sâu sắc… Những người có điểm “O” cao là người hóm hỉnh, luôn hiếu kì, muốn tìm hiểu những điều mới mẻ, và có nhiều sở thích đa dạng như yêu thích học tập, thích nghệ thuật, thích tham gia vào một ngành nghề hoặc sở thích sáng tạo và thích gặp gỡ những người mới (Lebowitz, 2016). Ngược lại, những người có điểm “O” thấp là người đơn giản, sống thực tế, thích làm theo thói quen hơn, thường làm những gì họ biết, có khá ít sở thích và không thích nghệ thuật trừu tượng. Tận tâm (Conscientiousness) Tận tâm là một đặc điểm có thể được mô tả là xu hướng kiểm soát các xung đột và hành động theo các cách thức xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho hành vi hướng đến mục tiêu, chẳng hạn như suy nghĩ trước khi hành động, có khả năng trì hoãn sự hài lòng khi làm việc theo các tiêu chuẩn và quy tắc, lập kế hoạch, tổ chức TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 hiệu quả và ưu tiên các nhiệm vụ quan trọng (John & Srivastava, 1999). Các đặc điểm liên quan đến tính tận tâm bao gồm: cố chấp, đầy tham vọng, thấu đáo, tự đặt mình vào khuôn phép, nhất quán, có khả năng dự đoán, kiểm soát, đáng tin cậy, nhiều thủ đoạn, làm việc chăm chỉ, năng động, kiên trì, có kế hoạch,… Những người có điểm “C” cao là người có trách nhiệm, sống quy tắc, cẩn thận, có khả năng thành công trong học tập và sự nghiệp của họ, có khả năng vượt trội lên các vị trí lãnh đạo và kiên trì theo đuổi mục tiêu của họ với quyết tâm và khả năng dự đoán trước (Lebowitz, 2016).
Ngược lại, những người có điểm “C” thấp là người hay trì hoãn, sống bất quy tắc, bốc đồng, hay hành động theo quán tính và khó làm người khác tin tưởng. Hướng ngoại (Extraversion) Đặc điểm này là một trong hai mặt tính cách trái chiều: hướng ngoại và hướng nội. Nói chung, hướng ngoại có xu hướng tìm kiếm sự kích thích, thu hút năng lượng từ người khác và cách họ tương tác với người khác tạo nhiều mối quan hệ xã hội, trong khi người hướng nội cảm thấy mệt mỏi khi tương tác với người khác và bổ sung năng lượng khi họ ở một mình (John & Srivastava, 1999). Những đặc điểm liên quan đến hướng ngoại là: hòa đồng, quyết đoán, vui vẻ, cởi mở, tràn đầy năng lượng, hay nói nhiều, nói rõ, thân thiện, dễ tin người… Những người có điểm “E” cao có xu hướng tìm kiếm cơ hội để tương tác, giao tiếp với mọi người, nơi họ cho là “cuộc sống bình đẳng.” Họ cảm thấy thoải mái với những người khác, thích giao du, nói nhiều, thân thiện, năng động và dễ hành động trước suy nghĩ (Lebowitz, 2016).
Ngược lại, những người có điểm “E” thấp thường là người “ít nói”, khá nhút nhát, thích im lặng, sống nội tâm, kín đáo và cẩn trọng. Dễ chịu (Agreeableness) Đặc điểm này liên quan đến việc mọi người sống hòa thuận với nhau tốt như thế nào. Nó là một cấu trúc dựa trên cách bạn thường tương tác với người khác bao gồm các đặc điểm như lòng vị tha, khôn khéo, tin tưởng và khiêm tốn (John & Srivastava, 1999). Những đặc điểm liên quan đến tính dễ chịu bao gồm: lòng vị tha, tin tưởng, nhã nhặn, khiêm tốn, kiên nhẫn, tiết chế vừa phải, lịch sự, tử tế, trung TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 thành, rộng lượng, hay giúp đỡ, nhạy cảm, đáng yêu, vui vẻ, chu đáo… Những người có điểm “A” cao là người tốt bụng, ít kẻ thù, biết thông cảm, chia sẻ với bạn bè và người thân của họ, cũng như với người lạ nên thường được yêu thích và tôn trọng do dễ tin tưởng và hay giúp đỡ người khác (Lebowitz, 2016).
Ngược lại, những người có điểm “A” thấp thường ít được người khác tin cậy và yêu thích do họ là những người có tính khó chịu, khá hoài nghi và không sẵn sàng hợp tác, nhẫn tâm, thẳng thắn, thô lỗ, xấu tính, hay chống đối và mỉa mai người khác. Mặc dù không phải tất cả những người có mức độ dễ chịu thấp đều tàn nhẫn và xấu tính mà là họ không có khả năng làm khác người khác có cảm giác an toàn. Tâm lí bất ổn ( Neuroticism) Tâm lý bất ổn là một trong những đặc điểm tính cách cho thấy có nhiều điểm tiêu cực hơn.