CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tác động của biến đổi khí hậu đối với nuôi trồng thủy sản thế giới và Việt Nam 1. Tác động của biến đổi khí hậu đối với nuôi trồng thủy sản thế giới Nuôi trồng và đánh bắt thủy sản đóng góp đáng kể đối với an ninh lương thực và sinh kế nhưng cũng phụ thuộc rất nhiều vào hệ sinh thái biển, tuy nhiên, thực tế này ít được quan tâm. Thật vậy, các loài cá cung cấp nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng cho 3 tỷ người trên trái đất và ít nhất 50% lượng đạm và khoáng chất từ động vật cho 400 triệu người ở các nước nghèo nhất trên thế giới.
Hơn 500 triệu người ở các nước đang phát triển đang phải sống phụ thuộc, một cách trực tiếp hay gián tiếp vào nuôi trồng và đánh bắt thủy sản cho sinh kế của họ. Các sản phẩm về cá cũng là mặt hàng lương thực có giá trị thương mại lớn nhất thế giới chiến hơm 37% giá trị thương mại trên toàn thế giới (FAO, 2008). Theo số liệu của Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc (FAO), thủy sản hiện đang là mặt hàng thực phẩm được tiêu thụ mạnh nhất với khoảng 102 tỉ đô la năm 2008. Cũng theo số liệu của FAO thì từ nay cho đến năm 2015, tiêu thụ thủy sản tính theo đầu người trên toàn cầu sẽ tăng trưởng khoảng 0,8%/năm, tổng nhu cầu thủy sản và các sản phẩm thủy sản sẽ tăng khoảng 2,1%/năm.
Biến đổi khí hậu toàn cầu đang ngày càng ảnh hưởng lớn đến lĩnh vực NTTS, trong đó nhiệt độ đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển của sinh vật nói chung và các loài nuôi trồng thuỷ sản nói riêng. Hiện tượng nắng nóng đã làm cho nhiệt độ nước tăng lên quá ngưỡng chịu đựng của nhiều loài thủy sinh. Thay đổi nhiệt độ còn là điều kiện phát sinh của nhiều loài dịch bệnh xảy ra cho các loài nuôi. Nhiệt độ tăng cao làm cho sức khỏe của các loài nuôi, môi trường nước bị xấu đi, là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài sinh vật gây hại (FAO, 2008).
Theo báo cáo của Tổ chức Nông lương thế giới FAO năm 2008, biến đổi khí hậu toàn cầu có thể tác động tiêu cực lẫn tích cực lên ngành nuôi trồng thủy sản do các tác động trực tiếp cũng như gián tiếp lên các nguồn lực tự nhiên phục vụ ngành nuôi trồng thủy sản, có thể kể ra như nước, đất, giống, thức ăn và năng lượng. Hoạt động đánh bắt thủy sản cung cấp một lượng đáng kể đầu vào về con giống và thức ăn cho nuôi trồng thủy sản và đến lượt mình, lĩnh vực này lại tác động tới năng suất và khả năng sinh lợi của hệ thống nuôi trồng thủy sản (FAO, 2008). Tính dễ bị tổn thương của cộng đồng 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nuôi trồng thủy sản là do sự phụ thuộc vào các nguồn lực tự nhiên cũng như sự phơi lộ trước các hiện tượng thời tiết cực đoan. Báo cáo của FAO năm 2008 cũng chỉ ra rằng những biến đổi về thời tiết có thể làm tăng áp lực đối với trữ lượng thủy sản.
Biến đổi khí hậu không chỉ ảnh hưởng tới năng suất mà con làm tăng tính dễ bị tổn thương trước các bệnh truyền nhiễm, làm tăng rủi ro và giảm doanh thu cho các nông hộ. Nhiệt độ nước bề mặt đại dương tăng cùng với hiện tượng axit hóa đại dương tác động mạnh mẽ tới hệ sinh thái biển. Biến đổi khí hậu đang làm thay đổi sự phân bố các loài cá và năng suất nuôi trồng các loài nước ngọt cũng như nước mặn. Điều này ảnh hưởng tới tính bền vững của nuôi trồng và đánh bắt thủy sản cũng như sinh kế của các cộng đồng sống bằng nghề này, đồng thời tác động tới khả năng bắt và thu giữ các bon của đại dương (Harley, 2006).
Hiện tượng axit hóa đại dương gây ảnh hưởng không tốt tới các loài sinh vật biển như tôm, hàu hay rạn san hô để tạo nên lớp vỏ của chúng – quá trình này được gọi là canxi hóa. Điều này ảnh hưởng tới toàn bộ lưới thức ăn dưới đại dương. Ngoài ra, dân cư ven biển và sống bằng nghề cá cũng như các nước xuất khẩu thủy sản đặc biệt dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu. Các cộng đồng NTTS ở Bangladesh không chỉ chịu tác động của hiện tượng nước biển dâng mà còn chịu ảnh hưởng của lũ lụt và sự gia tăng của các cơn bão.
Cộng đồng sống phụ thuộc vào sông Cửu Long sản xuất hơn 1 triệu tấn các basa mỗi năm và sinh kế cũng như sản lượng cá đang phải đương đầu với hiện tượng xâm nhập mặn do nước biển dâng. Một số mô hình khí hậu chỉ ra rằng sản lượng cá toàn cầu có thể tăng dưới 10% vào năm 2090 có thể coi là một tác động tích cực của BĐKH. De Silva và Doris Soto trong nghiên cứu “Biến đổi khí hậu và nuôi trồng thủy sản: các tác động tiềm tàng, thích ứng và giảm thiểu” (2009) đã nêu rằng nóng lên toàn cầu sẽ là yếu tố biến đổi khí hậu chính tác động lên ngành nuôi trồng thủy sản, và điều này dẫn tới nhiệt độ nước bề mặt tăng. Theo dự tính, điều này sẽ thấy rõ ở các khu vực nước lạnh và ảnh hưởng tới việc nuôi trồng thủy sản tại của vùng ôn đới, như cá hồi và các loài thân mềm.
Hiện tượng ấm lên toàn cầu cũng có thể khiến cho các loài tảo độc sinh trưởng nhiều hơn và làm gia tăng các độc tố đặc biệt gây hại cho việc nuôi trồng các loài thân mềm. Tuy nhiên, cũng có những ảnh hưởng tích cực do hiện tượng ấm lên toàn cầu, đó là nhiệt độ tăng sẽ làm tăng khả năng sinh trưởng của quần 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thể vật nuôi và tăng sản lượng nói chung đặc biệt ở khu vực nhiệt đới và á nhiệt đới (Soto, 2009) Theo báo cáo “Tác động của Biến đổi khí hậu lên NTTS toàn cầu: một viễn cảnh toàn cầu” của DFID cũng đã chỉ ra rằng: gió và sóng mạnh có thể phá hủy cơ sở hạ tầng NTTS như việc nuôi các loài sò hến, tôm cua và các loài cá có vây trên lồng, bè và điều này sẽ làm giảm sản lượng cũng như phá hủy các trang thiết bị hỗ trợ. Hiện tượng ngập lụt ở khu vực duyên hải cũng sẽ trở nên trầm trọng hơn ở các vùng thấp/ trũng – khu vực thích hợp cho nuôi trồng một số loài nước lợ như tôm. Ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới lên NTTS cũng sẽ trở nên khắc nghiệt hơn tại đối với NTTS nước mặn và nước lợ, và các ngành này thường mang lại lợi nhuận cao gây ra thiệt hại lớn về kinh tế.
Leo William và Antonio Rota trong báo cáo “Tác động của Biến đổi khí hậu đối với nghề cá và thủy sản ở các nước đang phát triển và cơ hội thích ứng” cũng nhấn mạnh rằng biến đổi khí hậu ảnh hưởng rõ rệt tới nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. Ở các vùng vĩ độ thấp, ảnh hưởng tiêu cực có xu hướng lớn hơn đối với đánh bắt, phá hủy hệ sinh thái quan trọng như rạn san hô, rừng ngập mặn, làm giảm trữ lượng cá do nhiệt độ nước bề mặt tăng đồng và góp phần giảm năng suất. Điều ảnh ảnh hưởng mạnh mẽ tới an ninh lương thực và việc làm ở những khu vực sống phụ thuộc vào nghề cá (Williams L., 2010) Nghiên cứu “Thích ứng với biến đổi khí hậu của ngành công nghiệp nuôi hàu của Úc: phân tích và thực thi chính sách” của Peat Leith và Marcus Haward năm 2010 cũng đã chỉ ra rằng biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng tới nghề nuôi hàu theo nhiều hướng khác nhau ở các khu vực khác nhau có thể kể ra như sự mạnh lên của dòng hải lưu Đông Úc, thay đổi lượng mưa, thay đổi tần suất của các đợt nắng nóng, nước biển dâng và hiện tượng axit hóa đại dương (Leith, 2010). Nhóm nghiên cứu của Donata Melaku Canu, Viện nghiên cứu quốc gia về đại dương và địa vật lý Ý cũng đưa ra nhận định: vào cuối thế kỷ 21, theo kịch bản A2 của IPCC, nhiệt độ có nguy cơ tăng lên 4oC sẽ khiến giảm sản lượng của nghề nuôi ngao khu vực phá Venice do thay đổi về chất dinh dưỡng có trong nước (Canu, 2010).
Các nghiên cứu của NOAA cũng chỉ ra rằng độ pH nước biển cũng giảm 0,02/ thập kỷ trong 30 năm qua và độ axit của đại dương cũng tăng 30% kể từ khi cách mạng công nghiệp diễn ra. Các loài kiến tạo vỏ từ canxi như hàu, ngao rất nhạy cảm 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đối với sự thay đổi này, đặc biệt khi còn sống. Chỉ một sự thay đổi nhỏ về độ pH cũng dẫn tới sự thay đổi lớn trong cơ thể. Dưới đây là bảng tóm tắt những tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu lên nuôi trồng và đánh bắt thủy sản theo Trung tâm nghề cá thế giới (World Fish Center - WFC, 2007) Bảng 1.
Các hình thức tác động trực tiếp do biến đổi khí hậu đối với nuôi trồng thủy sản Tác động đối với nuôi trồng Tác nhân Tác động sinh lý thủy sản Sự phát triển của các loài tảo độc; Giảm lượng oxi hòa tan; Gia tăng các dịch Thay đổi cơ sở hạ tầng và chi phí bệnh; Thay đổi hệ sinh thái; Thay đổi vận hành. thành phần các sinh vật phù du. Mùa sinh trưởng dài hơn; Tỷ lệ tử vong Nhiều khả năng sẽ tăng sản tự nhiên giảm vào mùa đông; Tăng khả lượng và lợi nhuận năng trao đổi chất và tỷ lệ tăng trưởng. Thay đổi Nhiều khả năng sẽ mang lại lợi của nhiệt Tăng năng suất ban đầu.
nhuận nhưng đánh đổi lại là sự độ nước thay đổi thành phần các loài. biển bề mặt Thay đổi thời gian và khả năng di cư, đẻ Ảnh hưởng tới khả năng cung trứng và trưởng thành cũng như tỷ lệ cấp con giống. Thay đổi địa điểm và kích cỡ các khu Ảnh hưởng tích cực và tiêu cực. vực thích hợp cho từng loài.
Nguy hiểm với các rạn san hô là nơi cư Các mối nguy hại từ sóng biển trú của nhiều loài đồng thời bảo vệ bờ ảnh hưởng tới cơ sở hạ tầng và lũ biển khỏi các tác động của song. lụt sẽ trầm trọng hơn. Giảm các vùng đất thích hợp cho Mất đất. nuôi trồng thủy sản.
Thay đổi sự sinh trưởng, phân bố và cơ Mực nước Thay đổi hệ thống cửa sông cấu các loài và giống cho nuôi trồng. biển dâng Giảm lượng nước ngọt cho nuôi Xâm nhập mặn vào nước ngầm. trồng thủy sản và chuyển sang các loài nước lợ.