Tổng quan nghiên cứu
Suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính là một bệnh lý mạch máu phổ biến với tỷ lệ mắc trong cộng đồng chiếm khoảng 20% đến 25% ở nữ giới và 10% đến 15% ở nam giới tại các quốc gia phương Tây. Tại Việt Nam, một số khảo sát dịch tễ ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh lên tới 43,9% ở nhóm người trên 50 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh và khoảng 14,1% người trưởng thành có dòng trào ngược bệnh lý qua siêu âm Doppler tại khu vực miền Bắc. Bệnh lý này không chỉ làm suy giảm chất lượng cuộc sống mà còn gây tổn thất kinh tế nghiêm trọng; ước tính tại Hoa Kỳ, chi phí điều trị loét tĩnh mạch hàng năm lên tới 3 tỷ USD và làm mất hơn 2 triệu ngày công lao động mỗi năm.
Nhân viên y tế là nhóm đối tượng có nguy cơ mắc bệnh rất cao do đặc thù công việc đòi hỏi phải đứng hoặc ngồi bất động trong thời gian dài liên tục. Nhiều công bố quốc tế ghi nhận tỷ lệ bất thường tĩnh mạch ở nhân viên bệnh viện dao động từ 34% tại Áo đến 82,1% tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên, tại Việt Nam, các nghiên cứu chuyên sâu về thực trạng suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính trên đối tượng nhân viên y tế còn rất hạn chế.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lão khoa của tác giả Nguyễn Thùy Liên được thực hiện tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương từ tháng 8 năm 2022 đến tháng 9 năm 2023 nhằm hai mục tiêu trọng tâm: đánh giá thực trạng mắc suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính và phân tích các yếu tố liên quan ở toàn bộ cán bộ nhân viên y tế tại bệnh viện. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp bằng chứng dịch tễ học chính xác, nâng cao nhận thức bảo vệ sức khỏe nghề nghiệp cho hơn 485 nhân viên y tế và thiết lập tiền đề xây dựng quy trình sàng lọc định kỳ tại các cơ sở khám chữa bệnh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu ứng dụng hệ thống lý thuyết giải phẫu và sinh lý bệnh học huyết động mạch máu hiện đại. Hệ thống tĩnh mạch chi dưới gồm ba mạng lưới chính: hệ tĩnh mạch nông (tĩnh mạch hiển lớn, tĩnh mạch hiển bé), hệ tĩnh mạch sâu (tĩnh mạch đùi, tĩnh mạch khoeo, tĩnh mạch chày) và hệ tĩnh mạch xuyên. Tuần hoàn tĩnh mạch trở về tim phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động co bóp của khối cơ cẳng chân (được ví như quả tim ngoại biên) kết hợp với hệ thống van tĩnh mạch một chiều. Khi người bệnh ở tư thế đứng kéo dài, áp lực tĩnh mạch tại cẳng chân tăng vọt lên khoảng 85 mmHg so với mức 56 mmHg khi ngồi và dưới 5 mmHg khi nằm nghỉ ngơi. Sự ứ trệ máu làm tăng áp lực nội mạch kéo dài dẫn tới giãn thành mạch, hở van và hình thành dòng trào ngược bệnh lý.
Hệ thống phân loại quốc tế CEAP cập nhật năm 2020 được áp dụng để lượng hóa các mức độ tổn thương lâm sàng từ C0 (không có dấu hiệu nhìn thấy hay sờ thấy) đến C6 (loét tĩnh mạch đang tiến triển). Bên cạnh đó, thang điểm mức độ nghiêm trọng lâm sàng tĩnh mạch (VCSS) với thang điểm từ 0 đến 30 được sử dụng nhằm đánh giá khách quan 10 tiêu chí lâm sàng bao gồm mức độ đau, giãn tĩnh mạch, phù, biến đổi sắc tố da, viêm da, xơ mỡ da và tình trạng loét. Các khái niệm cốt lõi như dòng trào ngược bệnh lý (thời gian dòng trào ngược trên 0,5 giây ở tĩnh mạch hiển và trên 1,0 giây ở tĩnh mạch sâu), giãn mao mạch mạng nhện và xơ mỡ da được chuẩn hóa theo khuyến cáo của Hội Phẫu thuật Mạch máu và Diễn đàn Tĩnh mạch Hoa Kỳ.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang trên toàn bộ cán bộ, viên chức và người lao động đang công tác tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương trong khung thời gian từ tháng 8 năm 2022 đến tháng 9 năm 2023. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng trên quy mô hơn 400 nhân viên y tế thuộc 32 khoa, phòng và trung tâm nhằm triệt tiêu sai số chọn mẫu và nâng cao tính đại diện cho môi trường bệnh viện chuyên khoa tuyến cuối.
Quy trình thu thập số liệu kết hợp phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi cấu trúc hóa, thăm khám lâm sàng tỉ mỉ và đo đạc các chỉ số nhân trắc học (chiều cao, cân nặng, chỉ số khối cơ thể BMI theo chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới WHO). Toàn bộ đối tượng tham gia đều được siêu âm Doppler mạch máu chi dưới ở cả hai tư thế nằm và đứng trên hệ thống máy siêu âm tim mạch cao cấp Vivid S70, sử dụng đầu dò linear tần số 7 đến 13 MHz khảo sát đoạn dưới cung đùi và đầu dò convex tần số 1,5 đến 5 MHz khảo sát tĩnh mạch tầng trên. Mọi quy trình kỹ thuật siêu âm do một bác sĩ chuyên khoa mạch máu giàu kinh nghiệm thực hiện đồng nhất nhằm hạn chế tối đa sai số đo đạc. Số liệu được quản lý và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS phiên bản 22.0, phân tích đơn biến bằng kiểm định Chi-square và kiểm định chính xác Fisher, sau đó phân tích đa biến bằng mô hình hồi quy Logistic với khoảng tin cậy 95% và mức ý nghĩa thống kê p < 0,05.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Khảo sát lâm sàng và siêu âm Doppler mạch máu trên nhóm nhân viên y tế Bệnh viện Lão khoa Trung ương mang lại nhiều kết quả nổi bật:
Thứ nhất, tỷ lệ mắc suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính ở nhân viên y tế tại bệnh viện đạt mức 41,8%, trong đó tỷ lệ phát hiện có dòng trào ngược bệnh lý trên siêu âm Doppler chiếm khoảng 36,5%. Tỷ lệ này cao hơn đáng kể so với mức trung bình trong quần thể dân số chung ở độ tuổi lao động.
Thứ hai, có sự chênh lệch rõ rệt về tỷ lệ mắc bệnh theo giới tính và tính chất công việc. Tỷ lệ mắc bệnh ở nhân viên nữ đạt 47,2%, cao gấp 2,1 lần so với nhân viên nam (khoảng 22,5%). Nhóm điều dưỡng, kỹ thuật viên và phẫu thuật viên có thời gian đứng liên tục trên 4 giờ trong một ca làm việc ghi nhận tỷ lệ mắc lên tới 53,6%, cao vượt trội so với tỷ lệ 28,4% ở nhóm nhân viên hành chính văn phòng.
Thứ ba, các triệu chứng cơ năng xuất hiện với tần suất cao nhưng thường bị bỏ qua giai đoạn sớm. Cảm giác tức nặng cẳng chân vào cuối ngày làm việc là triệu chứng phổ biến nhất, chiếm 64,8% ở nhóm người mắc bệnh, tiếp theo là cảm giác đau mỏi chân (52,1%), chuột rút về đêm (43,7%) và phù mắt cá chân (31,4%).
Thứ tư, phân bố độ nặng lâm sàng theo thang phân loại CEAP cho thấy phần lớn đối tượng tập trung ở các giai đoạn sớm: phân độ C1 (giãn mao mạch mạng nhện hoặc tĩnh mạch lưới) chiếm 51,2%, phân độ C2 (giãn tĩnh mạch nông thân lớn trên 3 mm) chiếm 33,5%, phân độ C3 (phù chân) chiếm 12,8% và phân độ C4 (biến đổi sắc tố, chàm hóa da) chiếm 2,5%, không ghi nhận trường hợp nào tiến triển đến giai đoạn loét C5 hay C6.
Thảo luận kết quả
Thực trạng tỷ lệ suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính ở nhân viên y tế Bệnh viện Lão khoa Trung ương (41,8%) hoàn toàn tương đồng với nhiều công bố quốc tế, chẳng hạn như nghiên cứu của tác giả Shakya tại Nepal ghi nhận 46% nữ điều dưỡng bị suy giãn tĩnh mạch và nghiên cứu của tác giả Ziegler tại Áo ghi nhận 34% nhân viên bệnh viện mắc bệnh. Sự gia tăng áp lực tĩnh mạch kéo dài do tư thế đứng bất động trong các ca trực cấp cứu hoặc phẫu thuật làm tê liệt hoạt động của bơm cơ cẳng chân, dẫn đến tình trạng ứ trệ tuần hoàn vi mạch dưới da.
Khi biểu diễn mối tương quan giữa thời gian đứng làm việc và tỷ lệ xuất hiện dòng trào ngược trên siêu âm Doppler qua biểu đồ phân bố, dữ liệu cho thấy nguy cơ suy tĩnh mạch tăng theo cấp số nhân ở những người đứng trên 6 giờ mỗi ngày với tỷ suất chênh OR đạt 2,85 (khoảng tin cậy 95%: 1,62 - 5,01). Phân tích bảng đa biến cũng khẳng định tuổi đời trên 40, chỉ số BMI từ 23 kg/m² trở lên, tiền sử sinh con từ 2 lần trở lên ở nữ giới và tiền sử gia đình có người mắc bệnh là những yếu tố nguy cơ độc lập có ý nghĩa thống kê (p < 0,01).
Đáng chú ý, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có tới 58,3% nhân viên y tế mắc bệnh chưa từng được thăm khám chuyên khoa mạch máu trước đó và trên 40% có mức độ hiểu biết chưa đầy đủ về các biện pháp dự phòng. Điều này phản ánh thực tế rằng ngay cả trong môi trường y tế chuyên sâu, nhận thức về việc tự bảo vệ và tầm soát sớm các bệnh lý tĩnh mạch nghề nghiệp vẫn còn khoảng trống lớn cần được khắc phục kịp thời.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên các bằng chứng khoa học thu được, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp can thiệp cụ thể:
-
Thiết lập chương trình khám sàng lọc và siêu âm Doppler mạch máu định kỳ 12 tháng một lần cho 100% nhân viên y tế thuộc các khối lâm sàng có nguy cơ cao (điều dưỡng, phẫu thuật viên, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên) do Phòng Quản lý chất lượng phối hợp với Khoa Thăm dò chức năng triển khai thực hiện ngay trong năm 2024.
-
Triển khai sử dụng vớ áp lực y khoa phòng ngừa (áp lực mức 1: 15 đến 20 mmHg) cho nhân viên phải đứng hoặc ngồi liên tục trên 4 giờ mỗi ca trực, hướng tới mục tiêu giảm ít nhất 50% tần suất xuất hiện các triệu chứng tức nặng, đau mỏi và phù chân sau 3 tháng áp dụng liên tục.
-
Tái cấu trúc môi trường và thói quen làm việc thông qua việc bố trí thời gian nghỉ ngắn từ 3 đến 5 phút sau mỗi 90 phút làm việc liên tục để thực hiện các bài tập kích hoạt bơm cơ cẳng chân (nhón gót chân, xoay cổ chân, đi bộ nhẹ nhàng), đồng thời tránh ngồi bắt chéo chân trong các cuộc họp kéo dài.
-
Nâng cao nhận thức phòng bệnh bằng cách tổ chức các buổi truyền thông nội bộ, phát hành cẩm nang hướng dẫn chế độ dinh dưỡng giàu chất xơ (trên 25g mỗi ngày), bổ sung đủ nước (khoảng 2 lít mỗi ngày), kiểm soát chỉ số BMI dưới 23 kg/m² và hạn chế tối đa việc sử dụng giày dép có gót cao trên 5 cm trong giờ làm việc.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
-
Bác sĩ chuyên khoa Tim mạch, Lão khoa và Chẩn đoán hình ảnh: Tiếp cận bộ số liệu thực chứng chi tiết về giá trị chẩn đoán của siêu âm Doppler mạch máu, mối liên quan giữa dòng trào ngược huyết động và biểu hiện lâm sàng theo phân độ CEAP 2020.
-
Lãnh đạo bệnh viện, Phòng Tổ chức cán bộ và Phòng Quản lý chất lượng: Sử dụng dữ liệu nghiên cứu để xây dựng chính sách y tế lao động, cải thiện điều kiện làm việc và thiết kế các gói khám sức khỏe định kỳ chuyên biệt cho nhân viên y tế.
-
Nhân viên y tế trực tiếp tham gia chăm sóc người bệnh (điều dưỡng, bác sĩ ngoại khoa, kỹ thuật viên): Nắm bắt các dấu hiệu cảnh báo sớm của suy tĩnh mạch chi dưới, hiểu rõ các yếu tố nguy cơ nghề nghiệp để chủ động áp dụng các biện pháp bảo tồn và thay đổi lối sống.
-
Giảng viên, học viên sau đại học và nghiên cứu sinh ngành Y tế công cộng và Y học lao động: Tham khảo khung phương pháp luận nghiên cứu cắt ngang chuẩn mực, công cụ đánh giá VCSS và mô hình phân tích hồi quy đa biến trong các đề tài nghiên cứu bệnh nghề nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
Bệnh suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính ở nhân viên y tế thường bắt đầu bằng những triệu chứng nào?
Giai đoạn đầu, bệnh nhân thường có cảm giác nặng bắp chân, căng tức và mỏi chân vào cuối buổi làm việc, kèm theo hiện tượng sưng nhẹ quanh mắt cá chân hoặc chuột rút ban đêm. Khoảng 64,8% đối tượng trong nghiên cứu ghi nhận cảm giác tức nặng là triệu chứng cơ năng xuất hiện sớm nhất.
Tiêu chuẩn vàng để xác định suy tĩnh mạch chi dưới trong nghiên cứu là gì?
Siêu âm Doppler mạch máu là tiêu chuẩn hàng đầu với độ đặc hiệu 100%. Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định dựa vào sự hiện diện của dòng trào ngược bệnh lý khi làm nghiệm pháp ép cơ hoặc nghiệm pháp Valsalva với thời gian trào ngược trên 0,5 giây ở hệ tĩnh mạch nông và trên 1,0 giây ở hệ tĩnh mạch sâu.
Phân độ CEAP và thang điểm VCSS khác nhau như thế nào?
CEAP là bảng phân loại chuẩn quốc tế phân tầng bệnh theo 4 phương diện (Lâm sàng, Căn nguyên, Giải phẫu, Sinh lý bệnh) từ C0 đến C6. Trong khi đó, thang điểm VCSS (từ 0 đến 30 điểm) là công cụ lượng hóa chi tiết mức độ nghiêm trọng và sự thay đổi tiến triển lâm sàng qua 10 tiêu chí động.
Thời gian đứng làm việc ảnh hưởng như thế nào đến nguy cơ mắc bệnh?
Đứng bất động trên 4 giờ mỗi ngày làm tăng áp lực tĩnh mạch cẳng chân lên mức 85 mmHg liên tục, làm giảm hiệu quả bơm máu của cơ bắp. Nghiên cứu chỉ ra rằng nhân viên y tế đứng làm việc kéo dài có nguy cơ mắc suy tĩnh mạch cao gấp 2,85 lần so với nhóm làm việc tĩnh tại ít đứng.
Những biện pháp không dùng thuốc nào giúp nhân viên y tế phòng ngừa bệnh hiệu quả?
Nhân viên y tế nên mang vớ y khoa áp lực dự phòng (15-20 mmHg), thực hiện động tác nhón gót chân định kỳ sau mỗi 60-90 phút làm việc, gác chân cao khoảng 15 cm khi nằm nghỉ, duy trì chế độ ăn giàu chất xơ để tránh táo bón và kiểm soát cân nặng hợp lý.
Kết luận
- Tỷ lệ mắc suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính ở nhân viên y tế Bệnh viện Lão khoa Trung ương ở mức cao (41,8%), tập trung chủ yếu ở giai đoạn lâm sàng sớm C1 và C2.
- Giới tính nữ, thời gian đứng làm việc trên 4 giờ mỗi ca trực, chỉ số BMI tăng cao và tiền sử gia đình là các yếu tố nguy cơ độc lập hàng đầu.
- Siêu âm Doppler mạch máu đóng vai trò cốt lõi trong việc phát hiện sớm dòng trào ngược bệnh lý ngay cả khi triệu chứng thực thể chưa rõ ràng.
- Luận văn cung cấp cơ sở dữ liệu dịch tễ học tin cậy, khẳng định tính cấp thiết của việc xây dựng quy trình kiểm soát bệnh tĩnh mạch nghề nghiệp trong các cơ sở y tế.
- Khuyến nghị mở rộng mô hình nghiên cứu can thiệp theo dõi dọc trong 12 đến 24 tháng tới nhằm đánh giá hiệu quả của các biện pháp dự phòng bằng vớ áp lực và bài tập vận động tại chỗ cho toàn thể nhân viên y tế.