Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Người cao tuổi và bệnh ở người cao tuổi 1. Khái niệm người cao tuổi Quá trình lão hóa là một quá trình sinh học tự nhiên mang tính tất yếu ngoài tầm kiểm soát của con người và mang ý nghĩa đặc trưng ở các xã hội khác nhau. Vì vậy, khái niệm người cao tuổi (NCT) không giống nhau ở những quốc gia, khu vực trên thế giới.
Tại Việt Nam, theo Luật NCT ban hành ngày 04/12/2009, NCT được định nghĩa: là những người có độ tuổi từ 60 tuổi trở lên [14]. Dân số người cao tuổi trên thế giới và ở Việt Nam Trên th gi i Theo Quỹ dân số Liên hợp quốc năm 2012, có 810 triệu người từ 60 tuổi, chiếm 11,5% dân số toàn cầu, dự kiến đến năm 2050 tỷ lệ dân số trên 60 tuổi của thế giới sẽ tăng gấp đôi lên 22%. Trong đó, phụ nữ chiếm đa số trong dân số cao tuổi, cứ 100 người phụ nữ từ 80 tuổi trở lên thì chỉ có 61 người là nam giới [15]. Già hóa dân số là một trong những xu hướng quan trọng trong thế kỷ 21.
Điều này có ảnh hưởng lớn đến tất cả các khía cạnh xã hội và đang diễn ra ở tất cả các quốc gia với tốc độ khác nhau. Già hóa dân số tăng nhanh nhất ở các nước đang phát triển, bao gồm các nước có nhóm dân số trẻ đông đảo. Hiện nay, con người sống lâu hơn nhờ điều kiện tốt hơn về chế độ dinh dưỡng, vệ sinh, tiến bộ y học và giáo dục. Tuy nhiên, già hóa dân số cũng tạo ra những thách thức về mặt kinh tế xã hội, cho cả các cá nhân, gia đình và xã hội [15].
Tại Việt Nam Việt Nam đang bước vào thời kỳ già hóa dân số với số người từ 60 tuổi trở lên là hơn 10 triệu người, chiếm tỷ lệ 11,9% (năm 2019) [16]. Cùng với sự phát triển về kinh tế-xã hội, phần lớn NCT có cuộc sống ổn định về vật chất, 4 tinh thần. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận NCT đang phải lao động kiếm sống, sống cô đơn và đối mặt với nhiều nguy cơ bất lợi cho sức khỏe. Về tình trạng hôn nhân, phần lớn NCT đang có vợ/chồng hoặc góa, trong khi các tình trạng ly thân, ly dị hoặc chưa kết hôn chiếm tỷ lệ nhỏ.
Theo thời gian, tỷ lệ đang có vợ/chồng tăng lên (từ 61% năm 1993 lên gần 68% năm 2011) trong khi tỷ lệ góa vợ/chồng giảm (từ 36,6% xuống 28,2%) [17]. Trình độ học vấn của NCT đang cải thiện đáng kể theo thời gian. Tuy nhiên, có sự khác biệt khá rõ theo khu vực sống, trong đó người sống ở thành thị có tỷ lệ có học vấn cao hơn người sống ở nông thôn. Về vấn đề sức khỏe, nhìn chung tỷ lệ gặp khó khăn về khuyết tật (như nhìn, nghe) và hạn chế về chức năng (như đi bộ, nhớ và tập trung và tự chăm sóc) của NCT đã giảm đi.
Tuy nhiên, xét theo từng loại khuyết tật và chức năng, có thể thấy rõ sự khác biệt trong tỷ lệ gặp khó khăn theo độ tuổi (người càng cao tuổi, tỷ lệ gặp khó khăn càng cao và đặc biệt với nhóm đại lão), theo giới tính (phụ nữ thường có tỷ lệ gặp khó khăn cao hơn nam giới), theo dân tộc (NCT dân tộc thiểu số có tỷ lệ gặp khó khăn cao hơn NCT là người Kinh) và theo khu vực sống (NCT sống ở nông thôn có tỷ lệ gặp khó khăn cao hơn NCT sống ở thành thị). Khả năng tự chăm sóc, sự khác biệt có xu hướng giảm theo tuổi. Tuy nhiên, tình trạng “khó khăn” và “không thể thực hiện” với nhóm NCT đại lão (từ 80 tuổi trở lên) lớn hơn rất nhiều so với hai nhóm NCT còn lại [17]. Đặc điểm thể chất, sức khoẻ người cao tuổi Lão hóa là quá trình tất yếu của cơ thể sống.
Lão hóa có thể đến sớm hay muộn tùy thuộc vào cơ thể từng người. Khi tuổi già các đáp ứng kém nhanh nhạy, khả năng tự điều chỉnh và thích nghi cũng giảm dần, dẫn tới sức khỏe về tinh thần cũng giảm sút. Cụ thể, những thay đổi chủ yếu gồm: - Diện mạo: Tóc bạc, da sạm, có thêm nhiều nếp nhăn. Da trở nên khô 5 và thô hơn.
Trên cơ thể, đầu và mặt xuất hiện mụn cơm nhiều hơn. - Về hoạt động thần kinh cấp cao: Tính linh hoạt giảm, mất dần sự cân bằng giữa hai quá trình ức chế và hưng phấn. Nếu không có luyện tập tốt thì khó xác lập và khó thay đổi phản xạ có điều kiện. Bên cạnh đó, giấc ngủ của người già thường hay bị rối loạn, khó ngủ và ngủ không sâu.
- Các cơ quan cảm giác: Cảm giác - nghe nhìn, vị giác và khứu giác thường bắt đầu hoạt động kém hiệu quả khi tuổi cao. - Các cơ quan nội tạng: Tim là một bộ phận có trình độ chuyên môn hóa cao, quá trình hoạt động liên tục cùng với tuổi tác cũng sẽ chịu những vấn đề về suy giảm chức năng nhiều hơn các bộ phận khác. Hoạt động của tim phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của hệ tuần hoàn. Trong đó, phổi của NCT thường làm việc ít hiệu quả khi hít vào và khi lượng oxy giảm.
Khả năng dự phòng của tim, phổi và các cơ quan khác cùng giảm sút làm tổng thể khả năng thích nghi của NCT chậm hơn đáng kể. Có thể thấy thể chất của NCT có sự suy giảm nhất định ở tất cả các cơ quan của cơ thể từ tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, cơ xương khớp. Từ đó làm cho NCT dễ mắc phải một số bệnh liên quan đến vấn đề này. Tuy nhiên, sự thoái hóa, giảm sút ở các hoạt động của cơ thể ở mỗi NCT là khác nhau.
Điều này phụ thuộc vào khả năng vận động, chăm sóc bản thân của mỗi người [18]. Cơ cấu bệnh người cao tuổi 1. Trên thế giới Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện tại Haikou, Trung Quốc, đã đánh giá tỷ lệ hiện mắc và mối tương quan giữa các bệnh mạn tính ở 9.432 người cao tuổi sống trong cộng đồng, bao gồm cả khu vực nông thôn và thành thị. Nghiên cứu tập trung vào nhóm từ 60 tuổi trở lên và ghi nhận rằng có 31,7% người cao tuổi mắc ít nhất một trong bốn bệnh mạn tính chính.
Cụ thể, tỷ lệ mắc tăng huyết áp là 26,0%, đái tháo đường 8,0%, bệnh phổi tắc nghẽn 6 mạn tính (COPD) 1,0% và đột quỵ 1,9%. Nghiên cứu cũng xác định một số yếu tố liên quan chung đến cả bốn bệnh mạn tính này, bao gồm tuổi già, lao động trí óc, hút thuốc lá và béo phì. Ngoài ra, các yếu tố như giới tính, khu vực cư trú và mức độ tiêu thụ rượu được cho là có mối liên hệ với một số bệnh mạn tính cụ thể. Kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát các yếu tố nguy cơ nhằm giảm thiểu gánh nặng các bệnh mạn tính ở người cao tuổi.
Một nghiên cứu khác ghi nhận rằng có 85,2% người cao tuổi trong khu vực mắc ít nhất một bệnh mạn tính, tương ứng với 3.292 người trong dân số nghiên cứu. Các bệnh mạn tính phổ biến nhất bao gồm: Tăng huyết áp: 67,6% , Rối loạn lipid máu: 58,8% , Đái tháo đường: 21,5%, Loãng xương: 24,5% .Kết quả này phản ánh mức độ phổ biến cao của các bệnh mạn tính ở người cao tuổi và nhấn mạnh sự cần thiết của việc quản lý sức khỏe lâu dài và các chương trình can thiệp nhằm giảm thiểu tác động của các bệnh này trong cộng đồng) [20]. Những nghiên cứu này nhấn mạnh các thách thức lớn mà hệ thống y tế ở cả các quốc gia phát triển và đang phát triển phải đối mặt trong bối cảnh dân số già hóa nhanh chóng. Gánh nặng bệnh mạn tính ở người cao tuổi không chỉ đòi hỏi nguồn lực y tế đáng kể mà còn yêu cầu sự điều chỉnh trong chiến lược chăm sóc sức khỏe, từ việc phòng ngừa, chẩn đoán sớm đến quản lý dài hạn 1.
Tại Việt Nam Một nghiên cứu mô tả cắt ngang do Lê Hoài Nam và các cộng sự thực hiện trên 924 người cao tuổi tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị đã ghi nhận những kết quả đáng chú ý về tình trạng sức khỏe của người cao tuổi trong cộng đồng. Theo đó 100% người cao tuổi mắc các triệu chứng bệnh trong 2 tuần qua, trung bình 1 người cao tuổi mắc 2,7 triệu chứng bệnh và 3,9 bệnh. Các triệu chứng bệnh thường gặp ở người cao tuổi là nhức xương khớp 7 (46,1%), nhức đầu (40,7%), ho, khạc đàm (30,7%), táo bón (30,7%), nhìn mờ (22,9%) và chân tay yếu (21,6%). Năm nhóm bệnh có tỉ lệ mắc cao ở người cao tuổi là tuần hoàn (17,6%), hô hấp (14,9%), bênh cơ xương mô liên kết (13,7%), tiêu hóa (12,5%) và nội tiết, dinh dưỡng, chuyển hóa (7%).
Mười bệnh có tỉ lệ mắc cao ở người cao tuổi là tăng huyết áp (45,3%), viêm phế quản (14,5%), viêm khớp (11,7%), nhồi máu não (7%), thoái hóa cột sống (6,3%), loét dạ dày tá tràng (6,0%), đái tháo đường (5,9%), đục thủy tinh thể (4,7%), lao phổi (4,3%) và thấp nhất là suy tim (4,1%) [21]. Nghiên cứu này đã làm rõ bức tranh về gánh nặng bệnh tật ở người cao tuổi tại huyện Vĩnh Linh, với tỷ lệ mắc bệnh cao và đa dạng các triệu chứng. Những kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng các chương trình y tế cộng đồng, tập trung vào phòng ngừa, chẩn đoán sớm và quản lý các bệnh mạn tính nhằm cải thiện sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người cao tuổi. Nghiên cứu của Đỗ Chí Cường về mô hình bệnh tật ở người cao tuổi điều trị tại Bệnh viện Thống Nhất năm 2009 trên 1.087 bệnh nhân đã cung cấp những thông tin quan trọng về đặc điểm bệnh lý trong nhóm đối tượng này.
Kết quả cho thấy: tuổi cao nhất là 97, tuổi trung bình ở nhóm ngiên cứu là 73,01 tuổi; mười chương bệnh có tỉ lệ cao nhất là chương bệnh tuần hoàn (70,5%), chương bệnh nôi tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa (32,3%), bệnh hệ tiêu hóa (26%), bệnh hệ hô hấp (19,1%), chương bệnh hệ sinh dục (16,5%), chương bệnh bướu tân sinh chiếm tỉ lệ thấp nhất trong mười bệnh hàng đầu. Trong đó, bệnh tăng huyết áp có sự gia tăng đáng kể so với những bệnh còn lại, tỷ lệ 5 bệnh cao nhất lần lượt là bệnh tăng huyết áp, bệnh tim thiếu máu cục bộ, bênh đái tháo đường, bệnh thực quản, dạ dày-tá tràng và bệnh mạch máu não.