Luận án: Sự phát triển của kinh tế tư nhân ở Việt Nam giai đoạn 1991-2021

Nghiên cứu toàn diện 30 năm phát triển của kinh tế tư nhân Việt Nam (1991-2021), đánh giá vai trò, thành tựu và những đặc điểm nổi bật.

Trường đại học

Đại học Sài Gòn

Chuyên ngành

Lịch Sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2023

217
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Bối cảnh và nền tảng phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam 1991 2021

Giai đoạn 30 năm từ 1991 đến 2021 đánh dấu sự phát triển vượt bậc của kinh tế tư nhân Việt Nam. Sau 5 năm đầu đổi mới (1986-1991), nền kinh tế Việt Nam bắt đầu chuyển mình với những chủ trương cải cách kinh tế. Bối cảnh quốc tế thuận lợi kết hợp với chính sách mở cửa của Nhà nước tạo điều kiện vàng cho doanh nghiệp tư nhân (DNTN) phát triển. Từ những hạt giống nhỏ của nền kinh tế tư nhân, đến năm 2021, kinh tế tư nhân đã trở thành một trong những trụ cột quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình này không chỉ phản ánh sự thay đổi về cơ chế kinh tế mà còn thể hiện sự tiến bộ xã hội và sự tích cực của cộng đồng doanh nhân Việt Nam.

1.1. Tình hình kinh tế Việt Nam trước năm 1991

Trước năm 1991, nền kinh tế Việt Nam chủ yếu dựa vào kinh tế nhà nước (KTNN)kinh tế tập thể. Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) chiếm ưu thế tuyệt đối trong sản xuất và phân phối. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế thấp, sản phẩm nội địa không cạnh tranh được trên thị trường quốc tế. Các chủ trương và chính sách đầu tiên bắt đầu mở rộng không gian hoạt động cho kinh tế ngoài nhà nước (KTNNN), tạo tiền đề cho sự ra đời của kinh tế tư nhân hiện đại.

1.2. Chủ trương phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1991

Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức công nhận vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế. Luật Doanh nghiệp tư nhân được ban hành, tạo khung pháp lý rõ ràng cho doanh nhân Việt Nam. Các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai được áp dụng. Môi trường kinh doanh trở nên thông thoáng hơn, khuyến khích sự khởi nghiệp và đầu tư tư nhân.

II. Giai đoạn 1991 2005 Khởi đầu và phát triển ban đầu

Kinh tế tư nhân Việt Nam trong giai đoạn 1991-2005 trải qua những chuyển biến quan trọng. Từ năm 1991 đến 2000, doanh nghiệp tư nhân chủ yếu là các cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ, tập trung vào thương mại, dịch vụ. Số lượng DNTN tăng từng năm nhưng quy mô còn nhỏ, kỹ thuật lạc hậu. Giai đoạn 2001-2005, kinh tế tư nhân bắt đầu vươn lên, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng mạnh, công nghệ hiện đại được đưa vào. Đóng góp của DNTN đối với GDP quốc gia tăng dần, tạo việc làm cho hàng triệu lao động, góp phần phát triển kinh tế-xã hội đáng kể.

2.1. Chuyển biến từ 1991 2000 Nền tảng phát triển

Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990 là bước ngoặt, cho phép công dân Việt Nam lập doanh nghiệp riêng. Số lượng DNTN tăng từ hàng chục lên hàng trăm. Tuy nhiên, vốn đầu tư nhỏ, thiếu công nghệ, tiếp cận vốn vay khó khănnhững hạn chế lớn. Chính sách hỗ trợ của Nhà nước còn chưa toàn diện.

2.2. Vươn lên 2001 2005 Bước ngoặt

Gia nhập WTO được chuẩn bị, môi trường kinh doanh cải thiện. Luật Doanh nghiệp 2000 mở rộng quyền của DNTN. FDI tăng vọt, kéo theo công nghệ và kinh nghiệp quốc tế. DNTN Việt bắt đầu liên doanh, liên kết với doanh nghiệp nước ngoài, tăng năng lực cạnh tranhxuất khẩu.

III. Giai đoạn 2006 2021 Khẳng định vị thế và phát triển mạnh mẽ

Giai đoạn 2006-2021 là thời kỳ nở rộ của kinh tế tư nhân Việt Nam. Gia nhập WTO năm 2007 mở ra cơ hội lớn cho DNTN tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Chính sách phát triển kinh tế tư nhân được cụ thể hóa qua các Quyết định, Chỉ thị của Đảng và Nhà nước. Số lượng DNTN tăng nhanh, quy mô kinh doanh lớn hơn, lĩnh vực hoạt động đa dạng từ nông nghiệp đến công nghiệp, công nghệ cao. Đóng góp của kinh tế tư nhân vào GDP tăng lên gần 40% năm 2021. Vị thế của DNTN được công nhận rộng rãi, trở thành lực lượng quan trọng trong phát triển kinh tế.

3.1. Chính sách ưu đãi và hỗ trợ DNTN 2006 2021

Nhà nước đẩy mạnh cải cách hành chính, rút ngắn thủ tục thành lập DNTN. Quyết định 50/2009Quyết định 30/2013 của Thủ tướng tập trung vào hỗ trợ DNTN nhỏ và vừa. Chính sách tín dụng được nới rộng, lãi suất ưu đãi cho DNTN. Đầu tư hạ tầng tạo điều kiện thuận lợi. Chương trình đào tạo nâng cao kỹ năng quản lý doanh nhân.

3.2. Thành tựu và đóng góp kinh tế xã hội

DNTN Việt tạo ra hàng triệu việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Thu nhập bình quân của người lao động tăng. Xuất khẩu hàng hóa từ DNTN tăng mạnh, đóng góp kinh tế phát triển. Các doanh nhân Việt nổi bật trên sân chơi quốc tế, tạo hình ảnh tích cực cho quốc gia.

IV. Đặc điểm và vai trò của kinh tế tư nhân Việt Nam hiện nay

Kinh tế tư nhân Việt Nam hiện nay có những đặc điểm rõ rệt. Phát triển năng động, từng bước khẳng định vị thế trong nền kinh tế thị trường. Sự phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam, không bắt chước mù quán nước ngoài. DNTN tham gia tất cả lĩnh vực kinh doanh, từ công nghệ thấp đến công nghệ cao. Công nghệ ứng dụng ngày càng hiện đại, quy mô lớn, đa dạng. Tuy nhiên, kinh tế tư nhân cũng bộc lộ những mặt trái: bất bình đẳng giàu-nghèo tăng, môi trường suy thoái, tham nhũng kinh tế. Nhưng nhìn chung, vai trò của kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế-xã hội quốc giavô cùng quan trọng, là động lực chính của sự phát triển bền vững.

4.1. Đặc điểm nổi bật của DNTN Việt Nam

DNTN Việtquy mô đa dạng: từ siêu nhỏ, nhỏ đến vừa, lớn. Lĩnh vực hoạt động rộng: nông-lâm-ngư, công nghiệp, xây dựng, dịch vụ, công nghệ thông tin. Năng lực cạnh tranh được nâng cao qua liên doanh, hợp tác quốc tế. Tính linh hoạt, sáng tạoưu thế cạnh tranh.

4.2. Những thách thức và cơ hội phía trước

DNTN Việt vẫn còn nhiều hạn chế: vốn nhỏ, tiếp cận tín dụng khó, chất lượng nhân lực chưa cao. Áp lực cạnh tranh từ doanh nghiệp FDI lớn. Tuy nhiên, thị trường nước ngoài mở rộng, cách mạng công nghiệp 4.0 tạo cơ hội mới. DNTN Việt cần đổi mới sáng tạo, đầu tư nghiên cứu phát triển.

18/12/2025
Sự phát triển của kinh tế tư nhân ở việt nam 1991 2021

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VẤN ĐỀ KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM Kinh tế tư nhân và phát triển KTTN là tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường, dù là kinh tế thị trường sơ khai, đang phát triển hay đã phát triển. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, phát triển KTTN cũng là tất yếu và có tính quy luật. Bên cạnh việc khẳng định vị trí, vai trò động lực của KTTN đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi nền kinh tế, vấn đề quan trọng hơn là xác lập vị trí, vai trò động lực đó một cách đúng đắn, hợp lý, đồng thời có giải pháp để KTTN phát huy cao độ những ưu điểm, hạn chế, khắc phục những nhược điểm cố hữu, phục vụ đắc lực nhất cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong những giai đoạn tiếp theo nhằm sớm hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Vấn đề phát triển KTTN còn cấp thiết hơn trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực, chủ động đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với việc tích cực tham gia các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới trong những năm gần đây, để sớm hiện thực hóa mục tiêu “phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” (Đảng Cộng sản Việt Nam (2016).

76) và “phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (Đảng Cộng sản Việt Nam (2021. Vì vậy, trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước (tháng 12 năm 1986) đến những năm 2021, đặc biệt là trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI, liên quan đến vấn đề phát triển KTTN ở Việt Nam, đã có nhiều đề tài các cấp, các công trình nghiên cứu, luận văn, luận án, bài báo khoa học được công bố ở trong nước và ngoài nước đi vào tìm hiểu, phân tích, đánh giá nhằm làm rõ quá trình hình thành, phát triển, sự tồn tại tất yếu khách quan cũng như vị trí, vai trò động lực quan trọng của khu vực kinh tế này đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài Các công trình nghiên cứu về KTTN trên thế giới cho đến nay khá nhiều, tuy nhiên, nghiên cứu về KTTN trong nền kinh tế chuyển đổi với bối cảnh của một quốc gia đang xây dựng CNXH chỉ mới được quan tâm ở mức độ thấp. Những công trình nghiên cứu của các tác giả tiêu biểu: Kongphet Phetsavong và Masaru Ichihashi (2012), “The Impact of Public and Private Investment on Economic Growth: Evidence from Developing Asian Countries” (Tác động của đầu tư công và tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế: Bằng chứng từ các nước đang phát triển Châu Á).

Trong công trình này, nhóm tác giả đã luận giải những nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của khu vực công, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực tư nhân trong nước thuộc các nước đang phát triển ở Châu Á trong giai đoạn 1984 - 2009. Kết quả thực nghiệm của công trình nghiên cứu cho thấy, đầu tư của tư nhân trong nước đóng vai trò quan trọng nhất, góp phần tăng trưởng kinh tế của các quốc gia này. Đứng thứ hai là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, trong khi khu vực công dường như làm tổn hại đến tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, cũng theo nhóm nghiên cứu, khu vực công ở các nước đang phát triển của Châu Á được đầu tư quá lớn đã làm giảm tác động tích cực của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và đầu tư của tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế.

Công trình nghiên cứu “Private sector development and industrial policy: Why, how and for whom?” (Phát triển khu vực tư nhân và chính sách công nghiệp: Tại sao, như thế nào và cho ai?) của Christian Reiner và Cornelia Staritz, năm 2013, đã đi vào luận giải những tác động của KTTN trong phát triển công nghiệp. Nghiên cứu này chỉ ra rằng đã có sự đồng thuận rộng rãi trong nhận thức và thực tiễn về khu vực tư nhân đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế. Khu vực KTTN năng động, đổi mới, hiệu quả là động lực của tăng trưởng, tạo việc làm, thu nhập và sự thịnh vượng. Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức sống, Chính phủ các nước đang phát triển cần tạo điều kiện cho KTTN phát triển trong công nghiệp, đồng thời Chính phủ cũng nên tập trung vào các chính sách, cải thiện cơ sở hạ tầng, đảm bảo quyền sở hữu, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, giảm gánh nặng pháp lý thông qua bãi bỏ quy định và cung cấp ưu 9 đãi thuế quan hoặc tài chính.

Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và kinh tế tri thức, doanh nghiệp ở các nước đang phát triển, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa phải đối diện với nhiều thách thức khi phải cạnh tranh với các doanh nghiệp ở các quốc gia có nền công nghiệp phát triển. Do đó, Chính phủ các nước đang phát triển cần chú trọng lựa chọn phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế so sánh của quốc gia, đồng thời, quan tâm, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa giải quyết khó khăn. Báo cáo “The Role of the State in Vietnam’s Economic Development: Enhancing the Role of the State in Facilitating a More Competitive and Productive Economy” (Vai trò của Nhà nước trong phát triển kinh tế của Việt Nam: Nâng cao vai trò của Nhà nước trong việc tạo điều kiện cho nền kinh tế năng suất và cạnh tranh hơn) của World Bank, năm 2017, đã xác định vai trò thúc đẩy của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường tại Việt Nam. Bản Báo cáo đã khẳng định rằng Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong ba lĩnh vực: chính sách, kinh tế và xã hội.

Báo cáo này đã tập trung vào vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế và phát triển kinh tế. Bản Báo cáo cũng khẳng định rằng: Nhà nước không nên thay thế khu vực tư nhân trong các trường hợp mà thị trường đang, hoặc có thể, hoạt động hiệu quả hoặc nơi có cạnh tranh. Trong một số lĩnh vực trọng yếu (ví dụ: nhằm mục tiêu vào các nhóm dễ bị tổn thương, cải thiện chất lượng và thực thi luật pháp, xây dựng những quy định độc lập và sự tham gia của cộng đồng vào việc lập kế hoạch và giám sát), cần có những thử nghiệm nhiều hơn nhằm tìm ra những phương án tốt nhất để nâng cao tính hiệu quả của nhà nước. Năm 2021, World Bank tiếp tục có nghiên cứu “Country private sector diagnostic: Creating markets in Vietnam” (Nghiên cứu đánh giá khu vực tư nhân: Kiến tạo thị trường tại Việt Nam), nghiên cứu này khẳng định: Khu vực kinh tế tư nhân đóng vai trò tiên phong trong tiến trình phát triển vượt bậc của Việt Nam, từ thúc đẩy đầu tư đến tạo công ăn việc làm và tăng trưởng, khu vực kinh tế tư nhân đã góp phần đưa Việt Nam gia nhập hàng ngũ các nền kinh tế có thu nhập trung bình chỉ sau một thế hệ.

Nhờ mở cửa thương mại và theo đuổi mô hình tăng trưởng hướng đến xuất khẩu, Việt Nam đã thu hút được lượng lớn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các phân khúc sử dụng nhiều lao động của chuỗi giá trị sản 10 xuất toàn cầu. Tỷ lệ nghèo đói đã giảm từ 50% năm 1990 xuống còn khoảng 2% năm 2018. Hiện nay, Việt Nam là cứ điểm xuất khẩu điện thoại thông minh lớn thứ hai thế giới, sản xuất trên 40% số sản phẩm điện thoại toàn cầu của Samsung - minh chứng cho thành công của chiến lược tăng trưởng này. Các doanh nghiệp tư nhân trong nước cũng năng động không kém với các công ty lớn trong nước đang nổi lên như: Vingroup, VietJet, Masan.

hoạt động trên khắp khu vực Đông Á. Nghiên cứu cũng đã đưa ra những khuyến nghị để tiếp tục phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam: (i) Tạo sân chơi bình đẳng và tăng cường cạnh tranh; (ii) Cải thiện cơ hội tiếp cận tài chính; (iii) Khắc phục chênh lệch và thiếu hụt kỹ năng; (iv) Cải thiện dịch vụ hạ tầng cốt lõi để hỗ trợ tăng trưởng; (v) Khuyến khích tư nhân tham gia nhiều hơn trong du lịch và kinh doanh nông nghiệp. Nghiên cứu về quá trình chuyển biến của KTTN Việt Nam từ nước ngoài (bên ngoài Việt Nam) cũng đã được một số nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm, với những công trình nghiên cứu của các tác giả tiêu biểu: Dixon, C. Cụ thể: Công trình nghiên cứu “State, Capital and Resistance to Globalisation in the Vietnamese Transitional Economy” (Nhà nước, vốn và lực cản toàn cầu hóa trong nền kinh tế chuyển đổi của Việt Nam) của Dixon, C.

Kilgour, năm 2002, đã xem xét các vấn đề cản trở toàn cầu hóa và sự phân rã của chính quyền trung ương trong bối cảnh Việt Nam. Các tác giả đã lập luận rằng ở Việt Nam, cũng như ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, sự phát triển của các yếu tố của nền kinh tế thị trường và hội nhập vào hệ thống toàn cầu đang diễn ra dưới sự bảo trợ của một nhà nước với một đảng, kế hoạch hóa tập trung, tiếp tục khẳng định cam kết của mình đối với sự kiểm soát của nhà nước đối với nền kinh tế. Ngoài ra, các tác giả của công trình nghiên cứu cũng cho rằng mặc dù điều này đã cho phép thực hiện một biện pháp kiểm soát đáng kể đối với các lực lượng toàn cầu hóa kinh tế, nhưng các quá trình cải cách và tăng trưởng kinh tế liên quan cũng như tham gia vào nền kinh tế toàn cầu đang làm suy yếu thẩm quyền của chính quyền trung ương. Điều này đang ngày càng làm giảm hiệu quả của chính quyền trung ương ở Việt Nam khi quyền lực chuyển nhiều sang chính quyền địa phương hơn.

Thành công trong việc chuyển đổi mô hình kinh tế ở Việt Nam và Trung Quốc đã tác động đến các giai tầng trong xã hội của hai quốc gia này, vì vậy, nghiên cứu về vấn đề này trong một bộ phận cụ thể của xã hội hai nước này là đối tượng doanh nhân đã được tác giả Thomas Heberer đề cập trong công trình nghiên cứu của mình là “Private entreprenuers in China and Vietnam: social and political functioning of strategic groups” (Doanh nhân tư nhân Trung Quốc và Việt Nam: Chức năng xã hội và chính trị) công bố năm 2003.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ