Sự Phát Triển Chính Quyền Lê vào Thế Kỷ XV ở Việt Nam

Tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu lịch sử an nam, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về ., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Trường đại học

Đại học Tổng hợp Yale

Chuyên ngành

Lịch sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án

2005

65
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: SỰ THIẾT LẬP THIỂU SỐ CHÍNH TRỊ

2. CHƯƠNG 2: ĐƯỜNG LỐI CHÍNH TỊ CỦA THIỂU SỐ CHÍNH TRỊ

3. CHƯƠNG 3: THẮNG LỢI CỦA THIỂU SỐ CHÍNH TRỊ

4. CHƯƠNG 4: SỰ THAY ĐỔI CỦA TRIỀU ĐÌNH

5. CHƯƠNG 5: SỰ THAY ĐỔI CỦA CHÍNH PHỦ VÀ NHÀ NƯỚC

6. CHƯƠNG 6: SỰ CỦNG CỐ

CÁC PHỤ LỤC

I. CÁC CẤU TRÚC CỦA CHÍNH PHỦ

I.1. MẪU NHÀ ĐƯỜNG (T’ANG)

I.2. KHUÔN MẪU CỦA LÊ LỢI NĂM 1430

I.3. KHUÔN MẪU CỦA THIỂU SỐ CHÍNH TRỊ NĂM 1456

I.4. MẪU NHÀ MINH (MING)

I.5. KHUÔN MẪU CỦA LÊ THÁNH TÔNG NĂM 1471

II. CÁC DANH SÁCH NHÂN VIÊN

II.1. NHỮNG NGƯỜI ỦNG HỘ BAN ĐẦU LÊ LỢI NĂM 1418

II.2. CÁC PHẦN THƯỞNG VỀ CÔNG TRẠNG NĂM 1429

II.3. PHỤNG BẢN GỬI TRUNG QUỐC NĂM 1460

II.4. NGỮ VỰNG (CÁC CHỨC TƯỚC VÀ TỪ)

THƯ MỤC

1. CÁC TÀI LIỆU GỐC

2. CÁC CÔNG TRÌNH KHÁC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Sự Phát Triển Chính Quyền Lê Thế Kỷ XV Việt Nam

Bài viết này đi sâu vào sự phát triển chính quyền Lê ở Việt Nam thế kỷ XV, một giai đoạn then chốt trong lịch sử dân tộc. Chúng ta sẽ khám phá quá trình hình thành, củng cố và thay đổi của bộ máy nhà nước dưới thời Nhà Lê sơ, đặc biệt là những cải cách mang tính bước ngoặt của Lê Thánh Tông. Các nguồn sử liệu chính, bao gồm Đại Việt sử ký toàn thư, sẽ được phân tích để làm sáng tỏ những diễn biến chính trị, xã hội và văn hóa của thời kỳ này. Nghiên cứu này không chỉ tập trung vào cơ cấu chính quyền trung ương mà còn đi sâu vào cơ cấu chính quyền địa phương, nhằm cung cấp một cái nhìn toàn diện về hệ thống quản lý nhà nước thời bấy giờ. Sự ảnh hưởng của Nho giáo đến chính quyền Lê cũng sẽ được xem xét kỹ lưỡng, bởi nó đóng vai trò quan trọng trong việc định hình hệ tư tưởng và các chính sách của triều đình.

1.1. Bối cảnh lịch sử Từ kháng chiến chống Minh đến Nhà Lê

Thế kỷ XV chứng kiến cuộc kháng chiến trường kỳ chống ách đô hộ của nhà Minh, kết thúc bằng thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Sau khi giành độc lập, Nhà Lê sơ được thành lập, mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử Việt Nam. Việc xây dựng và củng cố chế độ phong kiến Việt Nam trở thành nhiệm vụ trọng tâm của triều đình, đặc biệt là trong bối cảnh xã hội còn nhiều bất ổn sau chiến tranh. Vấn đề đặt ra là làm sao xây dựng một bộ máy nhà nước vững mạnh, hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước.

1.2. Nguồn sử liệu chính Đại Việt Sử Ký Toàn Thư và các tài liệu khác

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư là nguồn sử liệu quan trọng nhất để nghiên cứu về lịch sử Việt Nam thế kỷ XV. Tuy nhiên, cần phải xem xét kỹ lưỡng tính khách quan và độ tin cậy của các thông tin được ghi chép trong sử sách. Ngoài ra, các tài liệu khác như Đại Việt Thông Sử, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, và các văn bản pháp luật thời Nhà Lê cũng cung cấp những thông tin quý giá để bổ sung và đối chiếu.

II. Thách Thức Xây Dựng Chính Quyền Lê Bất Ổn Phân Quyền

Việc xây dựng và củng cố chính quyền Lê trong những năm đầu gặp phải nhiều khó khăn và thách thức. Tình trạng bất ổn chính trị do mâu thuẫn nội bộ, tranh giành quyền lực giữa các phe phái diễn ra khá phổ biến. Hệ thống quan lại thời Lê còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý đất nước. Vấn nạn tham nhũng, hối lộ hoành hành, làm suy yếu bộ máy nhà nước. Bên cạnh đó, việc phân chia quyền lực giữa trung ương và địa phương chưa hợp lý, dẫn đến tình trạng cát cứ, lộng quyền ở một số địa phương. Những vấn đề này đặt ra yêu cầu cấp bách phải tiến hành cải cách cải cách hành chính thời Lê để củng cố cấu trúc triều đình nhà Lê.

2.1. Bất ổn chính trị Mâu thuẫn nội bộ và tranh giành quyền lực

Sau khi Lê Lợi qua đời, triều đình nhà Lê lâm vào tình trạng bất ổn do mâu thuẫn nội bộ và tranh giành quyền lực giữa các công thần khai quốc. Một số quan lại, tướng lĩnh có công lớn sinh ra kiêu ngạo, lộng quyền, gây ảnh hưởng tiêu cực đến tổ chức bộ máy nhà nước thời Lê. Các cuộc nổi loạn của các thế lực địa phương cũng làm suy yếu chính quyền trung ương.

2.2. Hạn chế của hệ thống quan lại và nạn tham nhũng

Hệ thống quan lại thời Lê còn nhiều hạn chế về năng lực và phẩm chất. Tình trạng bổ nhiệm quan lại không qua thi cử, mua quan bán chức diễn ra khá phổ biến. Nạn tham nhũng, hối lộ hoành hành trong bộ máy nhà nước, làm suy yếu kỷ cương và lòng tin của nhân dân đối với triều đình. Những điều này cho thấy sự cấp thiết của việc cải tổ quan chế thời Lê.

2.3. Phân cấp hành chính thời Lê còn nhiều bất cập

Việc phân cấp hành chính thời Lê chưa thực sự hợp lý, dẫn đến tình trạng một số địa phương được trao quá nhiều quyền lực, trong khi những địa phương khác lại bị kìm hãm sự phát triển. Điều này tạo ra sự bất bình đẳng giữa các vùng miền và gây khó khăn cho việc quản lý, điều hành đất nước. Việc thiếu sự thống nhất trong cơ cấu chính quyền địa phương thời Lê cần phải được khắc phục.

III. Cải Cách Lê Thánh Tông Giải Pháp Phát Triển Chính Quyền Thế Kỷ XV

Dưới thời Lê Thánh Tông, một loạt các cải cách sâu rộng đã được tiến hành, đánh dấu bước phát triển vượt bậc của chính quyền Lê trong thế kỷ XV. Cải cách hành chính thời Lê được thực hiện một cách toàn diện, từ việc hoàn thiện cơ cấu chính quyền trung ương đến việc chấn chỉnh hệ thống quan lại thời Lê. Luật pháp thời Lê cũng được sửa đổi và bổ sung, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động của bộ máy nhà nước. Những cải cách này đã góp phần củng cố quyền lực của triều đình nhà Lê, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý đất nước. Sự ảnh hưởng của Nho giáo đến chính quyền Lê càng thể hiện rõ nét trong giai đoạn này.

3.1. Hoàn thiện cơ cấu chính quyền trung ương Lục Bộ và các cơ quan khác

Lê Thánh Tông đã hoàn thiện cơ cấu chính quyền trung ương bằng việc thành lập Lục Bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công), mỗi bộ phụ trách một lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Bên cạnh đó, các cơ quan như Hàn lâm viện, Ngự sử đài, Thái thường tự cũng được củng cố và phát triển, góp phần tăng cường quyền lực của chính quyền trung ương.

3.2. Chấn chỉnh hệ thống quan lại Thi cử và đánh giá năng lực

Lê Thánh Tông đặc biệt chú trọng đến việc chấn chỉnh hệ thống quan lại. Chế độ thi cử được hoàn thiện, mở rộng cơ hội cho người tài được bổ nhiệm vào bộ máy nhà nước. Việc đánh giá năng lực quan lại được thực hiện thường xuyên, nghiêm minh, giúp loại bỏ những người bất tài, vô dụng. Nhờ đó, hệ thống quan lại thời Lê trở nên trong sạch và hiệu quả hơn.

3.3. Xây dựng luật pháp thời Lê nghiêm minh

Luật pháp thời Lê, đặc biệt là Luật Hồng Đức, được xây dựng một cách công phu, chặt chẽ, bao quát nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Các quy định pháp luật được áp dụng nghiêm minh, góp phần duy trì trật tự xã hội và bảo vệ quyền lợi của nhân dân. Việc ban hành và thực thi luật pháp thời Lê thể hiện sự quan tâm của triều đình đến việc xây dựng một xã hội công bằng, văn minh.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Quân Đội Kinh Tế và Xã Hội Thời Lê Thế Kỷ XV

Sự phát triển của chính quyền Lê trong thế kỷ XV có tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội. Quân đội thời Lê được tổ chức và huấn luyện bài bản, trở thành lực lượng bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia. Kinh tế thời Lê có bước phát triển đáng kể, đặc biệt là nông nghiệp và thương nghiệp. Xã hội thời Lê có nhiều biến đổi, với sự phân hóa giai cấp ngày càng rõ rệt. Tuy nhiên, triều đình cũng có những chính sách nhằm giảm bớt bất công xã hội và bảo vệ quyền lợi của người dân.

4.1. Quân đội thời Lê Tổ chức và sức mạnh quân sự

Quân đội thời Lê được tổ chức theo hệ thống ngũ quân, bao gồm bộ binh, kỵ binh, thủy binh, tượng binh và pháo binh. Quân đội được trang bị vũ khí hiện đại và huấn luyện kỹ càng. Nhờ đó, quân đội thời Lê có sức mạnh chiến đấu cao, bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

4.2. Kinh tế thời Lê Nông nghiệp thương nghiệp và chính sách thuế khóa

Kinh tế thời Lê có bước phát triển đáng kể, đặc biệt là nông nghiệp. Triều đình khuyến khích khai hoang, phục hóa, xây dựng thủy lợi, giúp tăng năng suất cây trồng. Thương nghiệp cũng được chú trọng phát triển, với việc mở rộng giao thương với các nước láng giềng. Chính sách thuế khóa được điều chỉnh hợp lý, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển.

4.3. Xã hội thời Lê Phân hóa giai cấp và chính sách xã hội

Xã hội thời Lê có sự phân hóa giai cấp ngày càng rõ rệt, với các tầng lớp như quan lại, địa chủ, nông dân, thợ thủ công và thương nhân. Triều đình có những chính sách nhằm giảm bớt bất công xã hội và bảo vệ quyền lợi của người dân, như chính sách chia ruộng đất công, chính sách bảo trợ người nghèo và người tàn tật.

V. Kết Luận Di Sản và Bài Học Từ Chính Quyền Lê Thế Kỷ XV

Sự phát triển chính quyền Lê trong thế kỷ XV là một quá trình lịch sử đầy thăng trầm, nhưng cũng rất đáng tự hào. Những thành tựu đạt được trong giai đoạn này đã đặt nền móng cho sự phát triển của Việt Nam trong những thế kỷ tiếp theo. Những bài học kinh nghiệm rút ra từ chính quyền Lê vẫn còn giá trị đến ngày nay, đặc biệt là trong việc xây dựng một bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh và hiệu quả. Sự ảnh hưởng của Nho giáo đến chính quyền Lê cũng là một yếu tố cần được xem xét khi đánh giá về giai đoạn lịch sử này.

5.1. Di sản của chính quyền Lê Nền tảng cho sự phát triển của Việt Nam

Những cải cách của Lê Thánh Tông và những thành tựu đạt được trong thế kỷ XV đã tạo ra một nền tảng vững chắc cho sự phát triển của Việt Nam trong những thế kỷ tiếp theo. Chính quyền Lê đã xây dựng được một bộ máy nhà nước tương đối hoàn chỉnh, một hệ thống pháp luật khá chặt chẽ và một nền kinh tế có bước phát triển đáng kể.

5.2. Bài học kinh nghiệm Xây dựng bộ máy nhà nước hiệu quả

Từ sự phát triển chính quyền Lê, chúng ta có thể rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu trong việc xây dựng một bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh và hiệu quả. Đó là việc chú trọng đào tạo, tuyển dụng và sử dụng người tài, tăng cường kỷ luật và trách nhiệm của quan lại, xây dựng một hệ thống pháp luật công bằng và nghiêm minh.

27/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu gọn rõ và rất lý thú nói về chúng. 5 Ở chỗ mà cuối Toàn thư, Q.26a, nêu lên rằng 30 người được chọn làm quan lại, 24 cho các tỉnh và 6 cho chính phủ trung ương, và ghi 3 trong số họ mà không nhắc tới có qua một kỳ thi nào, thì cuốn Đại Việt lịch triều đăng khoa lục (1963), tr.27-28, hình như đã giả định rằng một kỳ thi là cơ sở để lựa chọn những người này, mà số lượng theo nó là 32, tuy nó chỉ nêu 3 người giống như trong cuốn Toàn thư. Trong cuốn Kiến văn tiểu lục (1963), tr.131, Lê Quý Đôn cũng giả thiết diều này. 6 Đại Việt lịch triều đăng khoa lục (1963), tr.28-31; Thiên Nam lịch triều liệt truyện đăng khoa bị khảo tham khảo ít nhiều, Lịch triều hiến chương loại chí (1963), Q.

Không có kỳ thi nào trong số các kỳ thi này là hoàn toàn Khổng giáo. Kỳ thi năm 1429 là kỳ thi Minh kinh, yêu cầu giải thích về các tác phẩm cố điển, và kỳ thi năm 1431 là kỳ thi Hoành từ về phạm vi hiểu biết văn học. Về sự mô tả chung chế độ thi cử Trung Quốc, xem W.Franke, Mở đầu về lịch sử, tr.1-15, trong cuốn Sự cải cách và bãi bỏ chế độ thi cử truyền thống của người Trung Quốc, Cambridge, Mass, 1963. Về 15 người thi đỗ được ghi lại, 6 từ Sơn Nam, 3 từ Kinh Bắc, 2 từ Sơn Tây, tất cả đều thuộc Tam giác châu, 1 từ bắc Thái Nguyên, một từ nam Thanh Hoá, và 2 người có nguồn gốc không xác định được.

1 7 những “quan lại cấp trên” (senior officials), chia sẻ sự quản lý nhà nước mới cho các cựu sĩ quan, và cho nó mượn vẻ chính đáng. Những người đỗ cao cũng chủ yếu có nguồn gốc Tam giác châu gia nhập họ qua các kỳ thi khác trong hàng chục năm sau đó, chúng ta sẽ gọi họ là “quan lại cấp dưới” (funior officials) tạo ra một sự ganh đua mạnh mẽ đối với các cựu sĩ quan và những đồng hương lớn tuổi của họ. Tuy vậy, phần lớn những người làm việc trong công sở, từ các nguồn khác tới, không may nằm trong bóng tối. Những quan lại trẻ nhất của Lê Lợi có thể là một thành phần lớn của nhóm này.

Những nhóm khác nhau này là những vai chính của câu chuyện của chúng ta và chúng ta sẽ đi theo chúng qua hàng chục năm kế tiếp vì chúng cố gắng hình thành và tranh nhau kiểm soát những câu trả lời của các câu hỏi: Ai sẽ điều khiển nhà nước? và nhà nước sẽ được điều khiển như thế nào?. Câu trả lời cho câu hỏi thứ nhất bao hàm đường lối chính trị cá nhân, câu trả lời cho câu hỏi thứ hai dẫn tới cấu trúc của chính phủ. Sự ganh đua chính trị tăng lên những năm này, dẫn tới bàn cãi về cấu trúc chính phủ trên võ đài chính trị. Chúng ta sẽ đi theo cuộc đấu tranh chính trị về các phương diện cá nhân khu vực và cấu trúc cho tới khi nó quyết định theo một hình thức hoàn toàn vào năm 1471 khi chính phủ Lê tiếp nhận khuôn mẫu cơ bản của nó.

Khuôn mẫu chính phủ Việt Nam cổ truyền vào năm 1420, là một lý tưởng về hình thức đối với sự kiểm soát của thiểu số chính trị. Sự xâm chiếm của nhà Minh vào phần tư đầu tiên của thế kỉ XV có hiệu ứng nhỏ đối với quan niệm này, những thay đổi của nó chủ yếu theo những điều kiện của sự quản lý địa phương 1, nếu có gì thì nó sẽ làm cho người ta tỉnh ngộ về bất cứ một hình thức luân chuyển nào đó do nhà Minh đưa ra gồm có những thay đổi lớn về hành chính mà Minh Thái Tổ định làm. Hình thức trước nhà Minh căn bản là hình thức của nhà Đường rất thích hợp với những nhu cầu của Lê Lợi và trong Nguyễn Trãi, nhà cố vấn dân sự nổi tiếng của Lê Lợi và là một học giả lớn2, chúng ra có thể thấy một sự giải thích của hình thức cũ thuần tuý do nhà Đường đưa ra. Quá trình Lê Lợi thiết lập hình thức chính phủ nhà Đường này là một quá trình từng bước.

Thực vậy, chúng ta có thể chia quá trình đó thành 3 giai đoạn: đầu tiên, những năm mở đầu khi ông quan tâm trước hết đến những vấn đề quân sự (khoảng năm 1418-1426); thứ hai, sự thành lập chính phủ để cai trị lãnh thổ giải phóng (1426-1428); 1 Lịch triều hiến chương loại chí (1961), Q.Meillon, Nguyễn Trãi (1380-1442), France-Asie, 11/1954, tr. 1 8 và cuối cùng sự kiểm soát hoàn toàn bản thân nhà nước (1428-1429). Trong thời kỳ đầu, khi cuộc khánh chiến tiến triển với thắng lợi tăng lên, những người đi theo thủ lĩnh Lê Lợi bắt đầu nổi lên và mang những chức tước vinh dự của nhà Đường. Năm 1418, các danh sách của những người đi theo giữ vai trò quan trọng, nằm trong các tài liệu ghi chép mà không có chức tước gì với tên 1.

Chức tước đầu tiên, Tư-không một trong “ba công tước” (Dukes) của thời đại nhà Đường 2 xuất hiện vào năm 14253 và được tiếp tục vào năm 1426 bởi một loạt chức tước như vậy, hỗn hợp 4. Hình như những chức tước này được chọn có phần ngẫu nhiên trong các chiến dịch, chỉ có trong thời kỳ thứ ba, với sự thiết lập đầy đủ của nhà nước chúng sẽ được áp dụng một cách có hệ thống 5. Trong thời kỳ này những công việc quân sự tất nhiên được ưu tiên cao nhất, chúng ta chỉ thấy những tài liệu ghi chép về những hoạt động như vào sổ dân số trong những vùng kiểm soát, tuyển mộ và huấn luyện các đạo quân, cung cấp vũ khí và lương thực6. Tuy nhiên trong năm 1423, Lê Lợi đã kêu gọi những quan lại của đất nước mình “tới triều đình một lần nữa để chào ông ta và trở về những chức vụ bình thường của họ.

Sau đó các quan lại phản nghịch có thể bị tách ra và đưa đi để tra hỏi” 7. Không có tài liệu ghi chép về sự đáp ứng lời kêu gọi đó, nhưng rất có thể nó bị xem thường vào lúc này, vì Lê Lợi còn phải chứng tỏ rằng ông là người bên thắng. Ta thấy trong sử sách Lê Lợi gánh vác hoàn toàn trách nhiệm về quyết định tiến hành trong quân đội. Chúng ta không thấy tài liệu ghi chép về những gợi ý đưa ra một cách chính thức bởi các tướng quân của ông và có thể nhiều sự liên lạc giữa họ là không chính thức.

Điều thấy được là đôi khi Lê Lợi có những phát biểu giữ đến tất cả các sĩ quan. Việc làm này là đủ đối với các công việc quân sự. Tuy vậy, một khi quân đội của ông đã chiếm được một phạm vi lãnh thổ đáng kể, như đã xẩy ra vào cuối năm 1426, thì phải thành lập một cấu trúc hành chính dân sự. Vào những tháng cuối năm , 1 Đại Việt sử ký toàn thư, Q.

2 Des Rotours, Tập I, tr. 3 Đại Việt sử ký toàn thư, Q. 4 Đại Việt sử ký toàn thư, Q. Ngoài Tư không ra, có một cái khác của “ba Công tước”: Thái uý (Des Rotours, I, tr.19-20), Thiếu uý, một bản dịch nhỏ Việt Nam của cái sau, và hai thái giám hoặc Giám đốc các văn phòng Hoàng đế (Des Rotours, I, tr.222, 480), tất cả từ thời nhà Đường, và một Khu mật (viện) Đại sứ, một “Bộ trưởng lớn” của thời nhà Đường và uỷ viên các công việc quan sự của thời nhà Tống (Xem E., Công việc dân sự ở Trung Quốc trong thời kỳ đầu của nhà Tống (Cambridge, Mass, 1953), tr.

5 Lịch triều hiến chương loại chí (1961), tr. 6 Đại Việt sử ký toàn thư, Q. 7 Đại Việt sử ký toàn thư, Q. 1 9 năm đầu khôi phục triều Trần cũ1, Lê Lợi bắt đầu xây dựng cấu trúc chung để cai trị đất nước bằng cách chia vùng phía Bắc ra thành 4 đạo 2 và bổ nhiệm những quan lại ở trung ương và tỉnh nhỏ làm việc trong cấu trúc mới ở những vùng mà sự kiểm soát của người Việt Nam được mở rộng.

Sau đó, ông lựa chọn 24 người, gồm có Đào Công Soạn ở tỉnh Sơn Nam để phục vụ như những quan lại tỉnh. (An phủ sứ hoặc những người bình định) và 6 người khác là những thư ký hạng hai trong 6 bộ (Viện ngoại lang) có thể bằng kỳ thi3. Nhiều tháng sau, vào khoảng tháng 2 năm 1427, 515 người khác nhận những chức vụ trong Viện Hàn lâm và các tổ chức khu vực của 4 đạo 4. Chế độ quan lại từng bước cung cấp nhân viên từ dưới lên.

Vấn đề quản lí vào lúc này là vấn đề những người đã phục vụ nhà Minh, những nguỵ quan và những loạn đảng họ còn chưa thay đổi thái độ đối lập của họ. Người ta ra lệnh bắt những người này, cùng với những người nô lệ và tài sản của họ 5. Tình cảnh nguy khốn của những quan lại đã gây nên bởi những lệnh này có thể thấy trong mưu toan của họ tạm thời thành công là tung ra những tin đồn có tính chất phá hoại giữa người Trung Quốc và người Việt Nam vào tháng 1 năm 1427. Những người phản bội lo ngại rằng “họ đã phản nước” thì họ sẽ không còn kế sinh nhai 6.

Mặt khác, những quan lại đã phục vụ nhà Minh mà tự trở về hàng ngũ của Lê Lợi thì được nhận những chức vụ ở tỉnh, tuy vậy, cần nhận xét rằng những chức vụ này được ấn định ở các vùng phía Nam không phải Tam giác châu của Thanh Hoá, Tân Bình và Thuận Hoá, ở đó lực lượng nổi loạn và các quan lại có ít cơ hội để lật đổ trật tự mới7. 1 Đại Việt lịch triều đăng khoa lục (1963), tr. 2 Bốn Đạo (Bắc, Tây, Đông và Nam) bao trùm vùng mà người Trung Quốc kiểm soát tốt nhất từ Thủ đô (Đông Đô) và gồm có Tam giác châu của sông Hồng và những vùng núi tiếp cận của nó. Đạo thứ 5 (Hải Tây) là vùng cốt lõi của vùng phiến loạn, đã nằm dưới sự kiểm soát, tuy nó chỉ được gọi chính thức là một đạo vào năm 1428, xem Hồng Đức bản đồ (1962), tr.

3 Đại Việt lịch triều đăng khoa lục (1963), tr.28-31; Thiên Nam lịch triều liệt truyện đăng khoa bị khảo tham khảo ít nhiều, Lịch triều hiến chương loại chí (1963), Q. Không có kỳ thi nào trong số các kỳ thi này là hoàn toàn Khổng giáo. Kỳ thi năm 1429 là kỳ thi Minh kinh, yêu cầu giải thích về các tác phẩm cố điển, và kỳ thi năm 1431 là kỳ thi Hoành từ vè phạm vi hiểu biết văn học. Về sự mô tả chung chế độ thi cử Trung Quốc, xem W.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ