phần mở đầu gọn rõ và rất lý thú nói về chúng. 5 Ở chỗ mà cuối Toàn thư, Q.26a, nêu lên rằng 30 người được chọn làm quan lại, 24 cho các tỉnh và 6 cho chính phủ trung ương, và ghi 3 trong số họ mà không nhắc tới có qua một kỳ thi nào, thì cuốn Đại Việt lịch triều đăng khoa lục (1963), tr.27-28, hình như đã giả định rằng một kỳ thi là cơ sở để lựa chọn những người này, mà số lượng theo nó là 32, tuy nó chỉ nêu 3 người giống như trong cuốn Toàn thư. Trong cuốn Kiến văn tiểu lục (1963), tr.131, Lê Quý Đôn cũng giả thiết diều này. 6 Đại Việt lịch triều đăng khoa lục (1963), tr.28-31; Thiên Nam lịch triều liệt truyện đăng khoa bị khảo tham khảo ít nhiều, Lịch triều hiến chương loại chí (1963), Q.
Không có kỳ thi nào trong số các kỳ thi này là hoàn toàn Khổng giáo. Kỳ thi năm 1429 là kỳ thi Minh kinh, yêu cầu giải thích về các tác phẩm cố điển, và kỳ thi năm 1431 là kỳ thi Hoành từ về phạm vi hiểu biết văn học. Về sự mô tả chung chế độ thi cử Trung Quốc, xem W.Franke, Mở đầu về lịch sử, tr.1-15, trong cuốn Sự cải cách và bãi bỏ chế độ thi cử truyền thống của người Trung Quốc, Cambridge, Mass, 1963. Về 15 người thi đỗ được ghi lại, 6 từ Sơn Nam, 3 từ Kinh Bắc, 2 từ Sơn Tây, tất cả đều thuộc Tam giác châu, 1 từ bắc Thái Nguyên, một từ nam Thanh Hoá, và 2 người có nguồn gốc không xác định được.
1 7 những “quan lại cấp trên” (senior officials), chia sẻ sự quản lý nhà nước mới cho các cựu sĩ quan, và cho nó mượn vẻ chính đáng. Những người đỗ cao cũng chủ yếu có nguồn gốc Tam giác châu gia nhập họ qua các kỳ thi khác trong hàng chục năm sau đó, chúng ta sẽ gọi họ là “quan lại cấp dưới” (funior officials) tạo ra một sự ganh đua mạnh mẽ đối với các cựu sĩ quan và những đồng hương lớn tuổi của họ. Tuy vậy, phần lớn những người làm việc trong công sở, từ các nguồn khác tới, không may nằm trong bóng tối. Những quan lại trẻ nhất của Lê Lợi có thể là một thành phần lớn của nhóm này.
Những nhóm khác nhau này là những vai chính của câu chuyện của chúng ta và chúng ta sẽ đi theo chúng qua hàng chục năm kế tiếp vì chúng cố gắng hình thành và tranh nhau kiểm soát những câu trả lời của các câu hỏi: Ai sẽ điều khiển nhà nước? và nhà nước sẽ được điều khiển như thế nào?. Câu trả lời cho câu hỏi thứ nhất bao hàm đường lối chính trị cá nhân, câu trả lời cho câu hỏi thứ hai dẫn tới cấu trúc của chính phủ. Sự ganh đua chính trị tăng lên những năm này, dẫn tới bàn cãi về cấu trúc chính phủ trên võ đài chính trị. Chúng ta sẽ đi theo cuộc đấu tranh chính trị về các phương diện cá nhân khu vực và cấu trúc cho tới khi nó quyết định theo một hình thức hoàn toàn vào năm 1471 khi chính phủ Lê tiếp nhận khuôn mẫu cơ bản của nó.
Khuôn mẫu chính phủ Việt Nam cổ truyền vào năm 1420, là một lý tưởng về hình thức đối với sự kiểm soát của thiểu số chính trị. Sự xâm chiếm của nhà Minh vào phần tư đầu tiên của thế kỉ XV có hiệu ứng nhỏ đối với quan niệm này, những thay đổi của nó chủ yếu theo những điều kiện của sự quản lý địa phương 1, nếu có gì thì nó sẽ làm cho người ta tỉnh ngộ về bất cứ một hình thức luân chuyển nào đó do nhà Minh đưa ra gồm có những thay đổi lớn về hành chính mà Minh Thái Tổ định làm. Hình thức trước nhà Minh căn bản là hình thức của nhà Đường rất thích hợp với những nhu cầu của Lê Lợi và trong Nguyễn Trãi, nhà cố vấn dân sự nổi tiếng của Lê Lợi và là một học giả lớn2, chúng ra có thể thấy một sự giải thích của hình thức cũ thuần tuý do nhà Đường đưa ra. Quá trình Lê Lợi thiết lập hình thức chính phủ nhà Đường này là một quá trình từng bước.
Thực vậy, chúng ta có thể chia quá trình đó thành 3 giai đoạn: đầu tiên, những năm mở đầu khi ông quan tâm trước hết đến những vấn đề quân sự (khoảng năm 1418-1426); thứ hai, sự thành lập chính phủ để cai trị lãnh thổ giải phóng (1426-1428); 1 Lịch triều hiến chương loại chí (1961), Q.Meillon, Nguyễn Trãi (1380-1442), France-Asie, 11/1954, tr. 1 8 và cuối cùng sự kiểm soát hoàn toàn bản thân nhà nước (1428-1429). Trong thời kỳ đầu, khi cuộc khánh chiến tiến triển với thắng lợi tăng lên, những người đi theo thủ lĩnh Lê Lợi bắt đầu nổi lên và mang những chức tước vinh dự của nhà Đường. Năm 1418, các danh sách của những người đi theo giữ vai trò quan trọng, nằm trong các tài liệu ghi chép mà không có chức tước gì với tên 1.
Chức tước đầu tiên, Tư-không một trong “ba công tước” (Dukes) của thời đại nhà Đường 2 xuất hiện vào năm 14253 và được tiếp tục vào năm 1426 bởi một loạt chức tước như vậy, hỗn hợp 4. Hình như những chức tước này được chọn có phần ngẫu nhiên trong các chiến dịch, chỉ có trong thời kỳ thứ ba, với sự thiết lập đầy đủ của nhà nước chúng sẽ được áp dụng một cách có hệ thống 5. Trong thời kỳ này những công việc quân sự tất nhiên được ưu tiên cao nhất, chúng ta chỉ thấy những tài liệu ghi chép về những hoạt động như vào sổ dân số trong những vùng kiểm soát, tuyển mộ và huấn luyện các đạo quân, cung cấp vũ khí và lương thực6. Tuy nhiên trong năm 1423, Lê Lợi đã kêu gọi những quan lại của đất nước mình “tới triều đình một lần nữa để chào ông ta và trở về những chức vụ bình thường của họ.
Sau đó các quan lại phản nghịch có thể bị tách ra và đưa đi để tra hỏi” 7. Không có tài liệu ghi chép về sự đáp ứng lời kêu gọi đó, nhưng rất có thể nó bị xem thường vào lúc này, vì Lê Lợi còn phải chứng tỏ rằng ông là người bên thắng. Ta thấy trong sử sách Lê Lợi gánh vác hoàn toàn trách nhiệm về quyết định tiến hành trong quân đội. Chúng ta không thấy tài liệu ghi chép về những gợi ý đưa ra một cách chính thức bởi các tướng quân của ông và có thể nhiều sự liên lạc giữa họ là không chính thức.
Điều thấy được là đôi khi Lê Lợi có những phát biểu giữ đến tất cả các sĩ quan. Việc làm này là đủ đối với các công việc quân sự. Tuy vậy, một khi quân đội của ông đã chiếm được một phạm vi lãnh thổ đáng kể, như đã xẩy ra vào cuối năm 1426, thì phải thành lập một cấu trúc hành chính dân sự. Vào những tháng cuối năm , 1 Đại Việt sử ký toàn thư, Q.
2 Des Rotours, Tập I, tr. 3 Đại Việt sử ký toàn thư, Q. 4 Đại Việt sử ký toàn thư, Q. Ngoài Tư không ra, có một cái khác của “ba Công tước”: Thái uý (Des Rotours, I, tr.19-20), Thiếu uý, một bản dịch nhỏ Việt Nam của cái sau, và hai thái giám hoặc Giám đốc các văn phòng Hoàng đế (Des Rotours, I, tr.222, 480), tất cả từ thời nhà Đường, và một Khu mật (viện) Đại sứ, một “Bộ trưởng lớn” của thời nhà Đường và uỷ viên các công việc quan sự của thời nhà Tống (Xem E., Công việc dân sự ở Trung Quốc trong thời kỳ đầu của nhà Tống (Cambridge, Mass, 1953), tr.
5 Lịch triều hiến chương loại chí (1961), tr. 6 Đại Việt sử ký toàn thư, Q. 7 Đại Việt sử ký toàn thư, Q. 1 9 năm đầu khôi phục triều Trần cũ1, Lê Lợi bắt đầu xây dựng cấu trúc chung để cai trị đất nước bằng cách chia vùng phía Bắc ra thành 4 đạo 2 và bổ nhiệm những quan lại ở trung ương và tỉnh nhỏ làm việc trong cấu trúc mới ở những vùng mà sự kiểm soát của người Việt Nam được mở rộng.
Sau đó, ông lựa chọn 24 người, gồm có Đào Công Soạn ở tỉnh Sơn Nam để phục vụ như những quan lại tỉnh. (An phủ sứ hoặc những người bình định) và 6 người khác là những thư ký hạng hai trong 6 bộ (Viện ngoại lang) có thể bằng kỳ thi3. Nhiều tháng sau, vào khoảng tháng 2 năm 1427, 515 người khác nhận những chức vụ trong Viện Hàn lâm và các tổ chức khu vực của 4 đạo 4. Chế độ quan lại từng bước cung cấp nhân viên từ dưới lên.
Vấn đề quản lí vào lúc này là vấn đề những người đã phục vụ nhà Minh, những nguỵ quan và những loạn đảng họ còn chưa thay đổi thái độ đối lập của họ. Người ta ra lệnh bắt những người này, cùng với những người nô lệ và tài sản của họ 5. Tình cảnh nguy khốn của những quan lại đã gây nên bởi những lệnh này có thể thấy trong mưu toan của họ tạm thời thành công là tung ra những tin đồn có tính chất phá hoại giữa người Trung Quốc và người Việt Nam vào tháng 1 năm 1427. Những người phản bội lo ngại rằng “họ đã phản nước” thì họ sẽ không còn kế sinh nhai 6.
Mặt khác, những quan lại đã phục vụ nhà Minh mà tự trở về hàng ngũ của Lê Lợi thì được nhận những chức vụ ở tỉnh, tuy vậy, cần nhận xét rằng những chức vụ này được ấn định ở các vùng phía Nam không phải Tam giác châu của Thanh Hoá, Tân Bình và Thuận Hoá, ở đó lực lượng nổi loạn và các quan lại có ít cơ hội để lật đổ trật tự mới7. 1 Đại Việt lịch triều đăng khoa lục (1963), tr. 2 Bốn Đạo (Bắc, Tây, Đông và Nam) bao trùm vùng mà người Trung Quốc kiểm soát tốt nhất từ Thủ đô (Đông Đô) và gồm có Tam giác châu của sông Hồng và những vùng núi tiếp cận của nó. Đạo thứ 5 (Hải Tây) là vùng cốt lõi của vùng phiến loạn, đã nằm dưới sự kiểm soát, tuy nó chỉ được gọi chính thức là một đạo vào năm 1428, xem Hồng Đức bản đồ (1962), tr.
3 Đại Việt lịch triều đăng khoa lục (1963), tr.28-31; Thiên Nam lịch triều liệt truyện đăng khoa bị khảo tham khảo ít nhiều, Lịch triều hiến chương loại chí (1963), Q. Không có kỳ thi nào trong số các kỳ thi này là hoàn toàn Khổng giáo. Kỳ thi năm 1429 là kỳ thi Minh kinh, yêu cầu giải thích về các tác phẩm cố điển, và kỳ thi năm 1431 là kỳ thi Hoành từ vè phạm vi hiểu biết văn học. Về sự mô tả chung chế độ thi cử Trung Quốc, xem W.