mở đầu là vào các triều vua Uy Mục đế (1505 - 1509) và Tương Dực đế (1510 - 1516). Chúng tôi sẽ phân tích kỹ điều này trong chương sau. Nhà nước Lê Sơ như chúng tôi đã phân tích mà cụ thể là nhà vua - người đứng đầu nhà nước chính là chủ thể của đường lối trị nước đồng thời cũng là cơ sở để đường lối trị nước đó có thể thÿ921ÿfcÿÿÿÿu7879?n đư̖ÿÿÿfc. Xã hội thời Lê Sơ Sau thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Năm 1428, vương triều Lê Sơ được thành lập, đất nước trải qua những chuyển biến mới với những thành tựu rực rỡ trong công cuộc khôi phục kinh tế, ổn định xã hội và xây dựng quốc gia Đại Việt độc lập tự chủ.
Nhà Lê Sơ đã cố gắng xây dựng một nhà nước phong kiến với chế độ 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quân chủ tập quyền trong khuôn khổ một quốc gia nông nghiệp. Nhà nước Đại Việt thời Lê Sơ có những thay đổi cơ bản khác về chất so với Đại Việt thời trước. Sự khác biệt về chất thể hiện tập trung trên các mặt: chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội. Về chính trị, nhà nước quân chủ phong kiến quan liêu đã từng bước được xây dựng thay thế nhà nước quân chủ quý tộc thân dân của thời Lý - Trần.
Nhà Lê đặc biệt đến thời Lê Thánh Tông đã trở thành nhà nước phong kiến quan liêu tập quyền cao độ, tất cả các vua của nhà Lê Sơ đều muốn xây dựng một nhà nước phong kiến quan liêu tập quyền. Các quan lại thời Lê Sơ chủ yếu do thi cử hoặc tiến cử ngoài ra là các bậc quan lại có công huân, các quý tộc thân cận nhà Lê hầu hết không đảm nhiệm các chức vụ quan trọng thậm trí ở một số triều đại họ còn bị sát hại vì lo sợ sự tranh quyền đoạt lợi. Về kinh tế, đó là sự phát triển mạnh mẽ của chế độ sở hữu tư nhân và sự xuất hiện của giai cấp địa chủ quan lại và phi quan lại làm chỗ dựa cho nhà nước. Kinh tế thời Lê Sơ chủ yếu là kinh tế nông nghiệp, gắn liền với nó là vấn đề ruộng đất.
Nếu như ở thời Trần tình trạng mua bán ruộng đất đã trở thành phổ biến, không chỉ trong nhân dân mà nhà nước cũng bán ruộng đất cho nhân dân. Cùng với việc mua bán ruộng đất, chế độ điền trang thái ấp giành riêng cho vương hầu, quý tộc làm nảy sinh một tầng lớp địa chủ mới gồm nhiều loại: quý tộc, tông thất quan lại, thứ dân. Đối lập với tầng lớp này là nông dân, lao động gồm nhiều thành phần khác nhau: tiểu nông, tá điền, dân nghèo làm thuê, nô tỳ…đứng đầu bậc thang đẳng cấp trong xã hội thời Trần là tầng lớp vương hầu quý tộc với nhiều đặc quyền đặc lợi và đáy cùng của xã hội là nông nô, nô tỳ có nguồn gốc khác nhau xuất hiện phổ biến với chế độ điền trang thái ấp của quý tộc. Nhưng sang thời Lê Sơ trải quá trình vận động phát triển kinh tế, mở mang văn hoá, xã hội Đại Việt trong giai đoạn này khác xã hội thời Lý - Trần và các xã hội trước đó trên nhiều phương diện.
Trong đó, quan trọng nhất là chế độ điền trang ở giai đoạn này về cơ bản đã bị xoá bỏ. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhà Lê Sơ ngay từ đầu đã chủ trương xoá bỏ chế độ điền trang thái ấp. Tuy nhiên, một số điền trang của triều đại trước vẫn còn tồn tại nhưng đã bị nhà nước kiểm soát chặt chẽ. Cùng với chế độ điền trang, chế độ nô tỳ cũng bị thủ tiêu, còn chăng chỉ là những tù binh trong các cuộc chiến tranh bắt được, được sử dụng chủ yếu trong việc khẩn hoang, lập đồn điền và nô bộc phục vụ cho các thế gia phú hào tồn tại dai dẳng như một tàn dư của chế độ cũ.
Về văn hoá tư tưởng, ở thời Lê Sơ hệ tư tưởng Nho giáo chiếm vị trí chính thống, độc tôn. Nếu như xã hội thời Lý - Trần, Phật giáo được coi là quốc giáo chi phối mọi hoạt động của nhà nước và sinh hoạt xã hội thì sang thời Lê, Phật giáo, Đạo giáo bị đẩy lùi. Nho giáo được nhà nước đặc biệt suy tôn và là công cụ tinh thần để trị nước an dân. Dưới thời Lê Thái Tổ nhiều trường học đã được mở xuống tận dưới Lộ, thu nạp mọi đối tượng vào học trừ những người xướng ca và tội nhân.
Cùng với việc đưa Nho giáo lên địa vị độc tôn, thời Lê Sơ giáo dục khoa cử đặc biệt được coi trọng và là phương thức chủ yếu trong tuyển chọn quan lại. Trải qua 100 năm thống trị Nhà Lê Sơ đã mở được 26 kỳ thi với 989 tiến sỹ. Số trí thức này hầu như đi theo con đường quan lộ, là nguồn bổ sung chủ yếu cho bộ máy nhà nước. Về kết cấu của xã hội, nếu dựa theo cách xem xét truyền thống là dựa vào nghề nghiệp bao gồm quan và tứ dân thì xã hội thời Lê Sơ bao gồm các tầng lớp như: sĩ, nông, công, thương.
Nếu như thời Trần, vua chia sẻ quyền lực với các vương hầu quý tộc, tầng lớp này có vai trò quan trọng trong sự nghiệp chống ngoại xâm, dẹp loạn và trong quản lý xây dựng đất nước thì đến thời Lê Sơ đặc biệt dưới thời Lê Thánh Tông, nhà nước đã được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền cao độ. Tất cả quyền lực tập trung vào tay vua, nhà vua tự mình giữ quyền chế tác, điều khiển đất nước. Dưới thời Lê Sơ dù thời đầu hay giai đoạn sau các quan lại đều có điểm chung là họ xuất thân từ nhiều tầng lớp khác nhau của xã hội thông qua hai con đường chủ yếu là công huân và tài năng (thi cử hoặc tiến 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cử) của từng người. Dù xuất thân từ tầng lớp nào thì khi bước vào quan trường họ đều được xếp vào bậc "cha mẹ của dân", với dân họ có nghĩa vụ "chăm dắt".
Quan và dân là hai tầng lớp cùng tồn tại trong xã hội, trong đó quan có nhiều cấp bậc, dân có nhiều tầng lớp, nhưng có một điểm chung đó là họ đều là thần dân của vua, tất cả đều là đối tượng xã hội của nhà nước quân chủ do nhà vua đứng đầu. Quan dưới thời Lê bao gồm hai ban văn - võ, có nhiều tầng lớp xuất thân qua thi cử, bảo cử hoặc tiến cử. Tuy nhiên quan lại trong buổi đầu thiết lập vương triều Lê Sơ chủ yếu là các cá nhân có công khai quốc công thần, họ có nhiều công huân trong chiến trận nhưng lại ít học thức. Tầng lớp này dần bị thay thế bởi tầng lớp quan lại được đào tạo qua thi cử ở các triều đại sau này.
Đội ngũ quan chức thời Lê Sơ rất đồ sộ gồm quan trong và ngoài triều với phẩm hàm xếp sắp thành 18 bậc (chánh và tòng) từ nhất phẩm đến cửu phẩm, tập hợp trong bộ máy nhà nước có nhiệm vụ quản lý đất nước, cai trị nhân dân, tuyệt đối trung thành với nhà vua. Cùng với quan lại là tầng lớp tứ dân, bao gồm: - Sĩ: dưới thời Lê Sơ tầng lớp này xuất hiện ngày càng nhiều. Họ là những người học Nho, xuất thân từ nhiều tầng lớp của xã hội và là nguồn để tuyển vào đội ngũ quan lại. Tuy nhiên, không phải ai trong tầng lớp này cũng được ra làm quan, một khi làm quan họ hiện diện trong xã hội với hai tư cách vừa là bậc cha mẹ của dân, vừa là nho sĩ.
Nếu không làm quan họ về làm thầy gắn chặt với đời sống làng xã, được xếp vào hàng đầu của tứ dân. Chính vì vậy mà dù ở chốn quan trường hay nơi thôn xã họ đều được xã hội trọng vọng. - Nông: đây là bộ phận chiếm đa số trong xã hội phong kiến Việt Nam nói chung. Họ là lực lượng sản xuất chủ yếu tạo ra của cải cho xã hội, đồng thời là nguồn cung cấp binh lính, lao dịch cho đất nước.
Dưới thời Lê Sơ tầng lớp này bị phân hoá mạnh mẽ bao gồm nhiều hạng từ người có ruộng tư hữu, 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com địa chủ, tiểu nông đến những người không có ruộng đất phải đi lĩnh canh nộp tô cho người khác. Sau nông dân là tầng lớp nô tỳ, mặc dù không nhiều nhưng vẫn tồn tại như một tàn dư của chiến tranh. Nô tỳ gồm hai loại là quan nô và tư nô, họ phục dịch trong các cung điện, dinh thự, các đồn điền hoặc các gia đình giàu có. - Thợ thủ công: dưới thời Lê Sơ mặc dù thủ công nghiệp chưa tách rời nông nghiệp để trở thành một ngành kinh tế độc lập, nhưng nó vẫn tồn tại.
Số lượng thợ thủ công dưới thời Lê Sơ không nhiều và gắn với hoạt động kinh tế làng xã. Tuy nhiên, ở triều đình do nhu cầu về xây dựng cung điện, thành quách. đã ra đời cục Bách Tác là nơi tập hợp, trưng dụng thợ thủ công có tay nghề cao từ các địa phương đến làm việc. Dưới làng xã số lượng thợ thủ công có tay nghề với một số nghề như: dệt, gốm, kim hoàn, khai thác mỏ tồn tại bên cạnh nghề nông như một lực lượng không thể thiếu được.
Song cũng giống như các thời trước, trong khuôn khổ của một xã hội nông nghiệp, lực lượng này không thể là lực lượng năng động có tác động chi phối sự vận động của xã hội. - Thương nhân: chiếm một số lượng không nhiều và về cơ bản họ vẫn chỉ là những người buôn bán nhỏ trao đổi giữa các địa phương với nhau. Họ không được nhà nước quan tâm chú trọng, đặc biệt là tầng lớp ngoại thương. Tầng lớp thương nhân bị coi rẻ, thậm chí còn bị nguyền rủa bởi Lê Thánh Tông trong bài Thập giới cô hồn Quốc ngữ văn: “Của phi nghĩa làm nên rợp nước, Lòng bất nhân truyền để làm ca.
Lừa đảo so xem nào có khác, Người ta lại bán được người ta” [77; 454]. Một bộ phận dân cư khác tồn tại trong xã hội mà chủ yếu là từ giai cấp nông dân mà ra đó là binh lính. Cũng như các vương triều của các thời khác binh lính luôn giữ vai trò quan trọng đối với một nhà nước một quốc gia. Đây là tầng lớp những người nông dân mặc áo lính, họ chính là công cụ bạo lực của nhà nước, gắn liền với bộ máy nhà nước.
Họ chịu sự điều động của nhà 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.