Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG QUAN LẠI THỜI LÊ THÁNH TÔNG 1. BỐI CẢNH VIỆT NAM THÉ KỶ XV VÀ SỰ LÊN NGÔI CỦA LÊ THÁNH TÔNG 1. Về kinh tế - xã hội Sau cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược do nhà Hồ tiến hành thất bại nhanh chóng vào năm 1407, Đại Việt rơi vào ách đô hộ tàn bạo của quân xâm lược nhà Minh liên tục suốt hai mươi năm. Nền sản xuất bị tàn phá nghiêm trọng, thiên tai, mất mùa, đói kém liên tiếp xảy ra.
Vì vậy, sau khi giành được quyền tự chủ, Lê Thái Tổ - vị vua đầu tiên của vương triều Lê Sơ - đã thi hành các biện pháp khôi phục sản xuất nông nghiệp, giải quyết một số vấn đề an sinh xã hội. Sau đó, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông tiếp tục chính sách xây dựng đất nước, trọng tâm là lĩnh vực kinh tế. Cuộc sống tương đối thanh bình được người dân khi ấy truyền tụng: “Đời vua Thái Tổ, Thái Tông. Thóc lúa đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn” [34, tr.
Đến thời Lê Thánh Tông, kinh tế Đại Việt phát triển mạnh mẽ, vững chắc, góp phần bảo đảm đời sống nhân dân và duy trì sự ổn định xã hội. Nông nghiệp, với vai trò nền tảng kinh tế của xã hội phong kiến, Nhà nước Lê Sơ chủ trương “trọng nông”, nhất là thời Lê Thánh Tông với nhiều biện pháp như khôi phục và mở rộng diện tích đất nông nghiệp, chăm lo đê điều, xây dựng các công trình thuỷ lợi, bảo vệ mùa màng, bảo vệ sức lao động nông nghiệp, khai khẩn ruộng hoang vùng ven biển và đất trung du, lập đồn điền, phát triển các nghề trồng dâu nuôi tằm. Điểm nổi bật trên lĩnh vực kinh tế là thi hành chính sách mới về ruộng đất với chế độ lộc điền và chế độ quân điền được Nhà nước xây dựng thành quy chế pháp lý chặt chẽ đã có tác dụng tích cực làm phục hồi và phát triển kinh tế nông nghiệp, thúc đẩy sức sản xuất của xã hội, kích thích sự phát triển của thủ công nghiệp và thương nghiệp. Khác hẳn với các triều Lý - Trần, nhà Lê thực hiện chính sách lộc điền, đem ruộng đất thuộc quyền sở hữu của Nhà nước ban cấp cho tầng lớp quan lại cao cấp.
Chế độ lộc điền được thi hành ngay từ những triều vua đầu tiên của nhà Lê, nhưng chưa trở thành quy chế. Đến thời Lê Thánh Tông mới được quy định và ban hành thống nhất trong cả nước vào năm 1477. Theo đó, người được cấp là “những quan lại cao cấp từ thân vương đến tòng tứ phẩm và những người thân thuộc gần gũi nhà Vua, các nữ quan thân cận trong triều” và “quan lại từ tứ phẩm trở lên thường nắm giữ các trọng chức trong triều hay đứng đầu các khu vực hành chính” [27, tr. Chế độ lộc điền là đặc quyền của tầng lớp cao nhất trong giai cấp thống trị, bao gồm hai phần: một phần nhỏ 7 là Nhà nước cấp vĩnh viễn, người được cấp có toàn quyền sở hữu gọi là ruộng đất thế nghiệp; còn phần lớn lộc điền thuộc loại ban cấp tạm thời, người được cấp chỉ có quyền chiếm hữu và sử dụng trong một đời, trong đó có quyền phát canh thu tô, sau khi người được cấp lộc điền chết ba năm phải trả lại cho Nhà nước.
Bằng chế độ lộc điền, Nhà nước đã hạn chế và đi đến thủ tiêu nền kinh tế điền trang thái ấp, thúc đẩy phát triển giai cấp địa chủ, đánh dấu một bước tiến trong quá trình hình thành và xác lập chế độ phong kiến Việt Nam. Chế độ quân điền được thực hiện ngay sau khi hoàn thành công cuộc giải phóng đất nước, khi chính quyền đã được củng cố và Nhà nước đã điều tra xong tài sản ruộng đất trong toàn quốc. Vào năm 1477, Lê Thánh Tông đã hoàn chỉnh chế độ quân điền và năm 1481 được thực hiện theo nguyên tắc thống nhất trên quy mô cả nước. Đây là chế độ chia cấp định kỳ ruộng đất công của làng xã cho các hộ nông dân cứ sáu năm một lần.
Đối tượng được cấp quân điền là “tất cả mọi người trong xã từ quan viên cho đến hạng thấp nhất của bậc thang xã hội phong kiến như người cô quả, tàn tật, vợ con người bị tội lưu, tội đồ đều được chia ruộng đất” [27, tr. Phần ruộng đất chia cho mỗi người nhiều hay ít phụ thuộc vào địa vị xã hội của họ và phụ thuộc vào số ruộng đất công của mỗi xã. Người được cấp quân điền phải nộp tô cho Nhà nước với mức nhẹ hơn các loại ruộng đất khác. Như vậy, để thực hiện quyền sở hữu tối cao về ruộng đất của nhà vua, nhà Lê đã thông qua đơn vị làng, xã thay mặt Nhà nước quản lý đất đai, tiến hành thu tô thuế cho Nhà nước, biến giai cấp nông dân thành tá điền của mình.
Đây là một loại quyền rất đặc trưng của các nhà nước phương Đông, là “sở hữu kiểu châu Á” như Mác nói. Chính sách quân điền của nhà Lê Sơ một mặt xuất phát từ việc bảo vệ lợi ích Nhà nước, mặt khác phần nào cũng đáp ứng được lợi ích của đại bộ phận các tầng lớp nhân dân. Trong xã hội phong kiến, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, bằng phép quân điền, nhà Lê đảm bảo cho người nông dân số ruộng đất tối thiểu để cày cấy, đảm bảo cuộc sống. Phép quân điền đã góp phần củng cố nền kinh tế tiểu nông, khôi phục và phát triển sản xuất nông nghiệp.
Đây là yếu tố tương đối tiến bộ của chính sách kinh tế dưới thời Lê Sơ, góp phần giải quyết những mâu thuẫn giữa các lợi ích trong xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Ở thế kỷ XV, thủ công nghiệp được tạo điều kiện mở rộng và khởi sắc. Nhiều nghề thủ công truyền thống như dệt vải, tơ lụa, làm giấy, làm gốm, đan l á t ,. khá phổ biến trong các gia đình nông dân.
Trong các làng xã ngày càng có nhiều làng thủ công nổi tiếng như nghề gốm (Bát Tràng), nhuộm (Huê Cầu), nung vôi (Yên Thế). Ở thành thị, thợ thủ công được tổ chức thành từng phường chuyên môn như Thăng Long có 36 phố phường với những cơ sở sản xuất 8 thủ công nổi tiếng (phường Yên Thái làm giấy, Nghi Tàm, Thụy Chương dệt lụa, Hàng Đào nhuộm điều.) Bộ phận thủ công của Nhà nước bao gồm những xưởng thủ công chuyên đúc tiền, đóng thuyền, sản xuất vũ khí, làm đồ dùng cho các vua quan. Các hoạt động khai thác mỏ sắt, đồng, vàng, bạc. cũng được mở rộng.
Trên cơ sở nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển, việc buôn bán cũng được đẩy mạnh. Các chợ địa phương phát triển, nhà Lê Sơ còn ban hành “lệ họp chợ”, quy định việc chia chợ cũ thành các chợ mới và thống nhất các đơn vị đo lường để tiện việc trao đổi hàng hóa trong vùng. Tình hình ngoại thương không được phát triển như nội thương do những chính sách “ức thương” như Nhà nước nắm độc quyền ngoại thương, hạn chế và kiểm soát chặt chẽ các thuyền buôn và thương nhân nước ngoài. Nhiều cơ quan kiểm soát ngoại thương mọc lên khắp các cửa biển dọc miền duyên hải.
Thuyền buôn nước ngoài chỉ được cập bến ở một số địa điểm đã quy định như Vân Đồn, Vạn Ninh (Quảng Ninh), Hội Thống (Nghệ An), Hội Triều (Thanh Hóa) và một số địa điểm trên đất liền thuộc các tỉnh Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Tây. Việc buôn bán giữa người trong nước với người nước ngoài cũng bị kiểm soát chặt chẽ. Theo sách Đại Việt Sử ký toàn thư, vào những năm Quang Thuận đời Lê Thánh Tông, “thuyền đi biển của nước Xiêm La đến trang Vân Đồn dâng biểu văn khắc trên lá vàng và dâng sản vật địa phương, vua khước từ không nhận” [48, tr. Sở dĩ triều Lê Sơ thi hành một chính sách “bế quan toả cảng” nghiêm ngặt là vì đất nước mới trải qua hàng chục năm đấu tranh gian khổ chống ngoại xâm để giành độc lập nên rất cảnh giác đề phòng âm mưu dò xét và xâm lược của người nước ngoài.
Về văn hoá, tư tưởng Cùng với những bước phát triển về kinh tế - xã hội, nền văn hóa, tư tưởng của nước Đại Việt thế kỷ XV cũng phát triển mạnh mẽ và giành được nhiều thành tựu rực rỡ. Nho giáo có vị trí quan trọng ngay từ thời Lý với việc bắt đầu thi cử Nho học, lập Văn Miếu,. và đến thời Lê Sơ thì phát triển đến đỉnh cao. Các triều đại phong kiến sử dụng triệt để Nho giáo với tư cách là một học thuyết chính trị có nội dung đề cao vai trò, quyền lực của vua, tuyệt đối hóa “trung quân”, chủ trương “lễ trị”.
làm vũ khí tư tưởng quan trọng nhất để thực hiện sự thống trị giai cấp của mình. Lê Thánh Tông (1442-1497) là một nhà nho học uyên bác do được tiếp thu Nho học từ nhỏ nên sau khi lên ngôi, từ những bài học kinh nghiệm lịch sử của các triều đại trước và của các bậc cha ông để lại, Lê Thánh Tông chủ trương và kiên quyết dùng Nho giáo để thống nhất về mặt tư tưởng trong phạm vi cả nước, đưa nó lên địa vị độc tôn và ngự trị trong các thể chế của Nhà nước. Các nhà nghiên cứu cho rằng Nho giáo thời Lê Thánh Tông là Tống Nho, hay là “sự vận dụng Tống Nho vào thực tế xã hội Việt Nam trên tinh thần dân tộc sáng tạo” [44, tr. 9 Đó là kết hợp giữa những biện pháp dùng lễ giáo để nêu quy phạm và răn dạy với việc dùng lễ giáo để trừng trị những người chống đối.
Đường lối chung này vẫn nằm trong khuôn khổ lễ trị của hệ tư tưởng Nho giáo chính thống, hay Nho giáo thời Lê Thánh Tông không còn đậm yếu tố “nhân” như thời Nguyễn Trãi mà chủ yếu là yếu tố “lễ”, được các nho sĩ làng xã tiếp thu và truyền tải vào đời sống. Giai cấp phong kiến chắt lọc lấy những yếu tố có lợi trong Nho giáo, vận dụng vào đường lối trị nước phù hợp với thực tiễn Việt Nam thế kỷ XV để tổ chức bộ máy nhà nước, xây dựng hệ thống pháp luật, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng. Với tư cách là hệ tư tưởng thống trị tuyệt đối trong xã hội, Nho giáo đã góp phần tích cực củng cố Nhà nước phong kiến Trung ương tập quyền thống nhất của một quốc gia tiểu nông nghiệp, tạo ra trật tự kỷ cương xã hội.