CHƯƠNG 1: HẬU QUA CUA CUỘC CHIẾN TRANH THE GIỚI THỨ II ĐỐI VỚI NƯỚC ĐỨC VÀ HIỆP ƯỚC POTSDAM 1. HẬU QUẢ CỦA CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ II ĐỐI VỚI NƯỚC ĐỨC 1.Dé chế III và Chiến tranh thế giới thứ II Cuộc Cách mạng dân chủ tư sản Đức tháng Mười Một năm 1918 đã đánh dấu chấm hết cho Dé chế Dé nhị, một Nhà nước Liên bang dưới sự thống trị của Phổ? được Bismarck” lập nên vào tháng 01. Ra khỏi cuộc Chiến tranh thế giới thứ I (1914-1918), nước Đức tuy bại trận, suy yếu nhưng chưa hoàn toàn bị diệt vong. Các nước phương Tây còn muốn sử dụng nước Đức như là một con đập ngăn làn sóng cách mạng đang có khả năng tràn sang phía Tây từ nước Nga Xô viết, Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới ra đời sau Cách mạng Tháng Mười 1917.
Trong bối cảnh đó, Cộng hoà WeimarẺ), một nước Cộng hoà có nền dân chủ kiểu phương Tây chính là cơ hội để nước Đức tồn tại và phát triển. Song Hitler và đảng Quốc xã của hắn đã phá bỏ cơ hội đó. Các thế lực phản động cực đoan đã làm tan rã Cộng hoà Weimar, thể chế Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đức sau 14 năm tồn tại. Dé chế Đệ tam, Nhà nước chuyên chế của Hitler được hình thành bat đầu từ việc lên nắm quyền của Hitler vào ngày 30.1933 với tham vọng hình thành một Nha nước Đại Đức, một đế quốc Đức hùng mạnh nắm vi trí thống trị ở châu Âu.
Về bản chất, Đế chế Đệ tam là Nhà nước độc tài chuyên chế của liên minh tư bản độc quyền và chủ nghĩa phát xít, trong đó các quyền tự do, quyền dân chủ, quyền con người hoàn toàn bị triệt tiêu. Khủng bố công khai và tuyên truyền mị dân là hai công cụ cơ bản để duy trì hệ thống thống trị của Hitler.Theo đuổi học thuyết phân biệt chủng tộc phản động, lạm dụng quyền tự quyết dân tộc và tư tưởng đại Đức, hiếu chiến và tàn bạo, Hitler đã buộc các nước trên thế giới liên minh chống lại nước Đức phát xít trong Chiến 15 tranh thế giới thứ II và chí nh cuộ c chi ến tra nh nà y đã đư a nư ớc Đứ c đế n bờ vực thắm. Ngày 30 tháng 01 năm 1933, khi Thống chế Von Hindenburg (4) quyét định dua Adolf Hitler lên làm Thủ tướng Cộng hoa Weimar thì trên thực tế Nghị viện của nước Cộng hoà này đã không còn hoạt động. Bởi ngay từ năm 1930, Hindenburg đã nhiều lần bổ nhiệm và bãi nhiệm Thủ tướng nước Cộng hoà mà không cần phải thông qua Nghị viện.
Đảng Công nhân xã hội chủ nghĩa dân tộc Đức (Nationalsozialistische Deutsche Arbeiterpartei-gọi tat là NSDAP hoặc NAZI) của Hitler lên cầm quyền trong lúc phan lớn xã hội Đức không còn quan tâm đến việc bảo vệ nền dân chủ : Quân đội của Cộng hoa Weimar ngay từ những ngày đầu đã tồn tại như một “nhà nước trong nhà nước”; tầng lớp tư sản đã đứng đằng sau Hitler từ trước khi y lên làm Thủ tướng; nền nông nghiệp Đức đã từ lâu chịu sự ảnh hưởng của Dang NAZI; hàng ngũ quan chức thì làm như thể việc Hitler lên làm Thủ tướng là hợp pháp; các dang công nhân và nghiệp đoàn suy yếu nghiêm trong vì nạn thất nghiệp triền miên trong khi đảng Xã hội và đảng Cộng sản lại coi nhau như thù địch.Mặt khác đảng NAZI ngày càng gây được ấn tượng tốt đối với các cử tri Đức. Nó đã trở thành một phong trào độc lập, một phong trào đã từng tuyên bố quyết rửa được “vết nhục Versailles” , một phong trào không liên quan, không phụ thuộc vào Nghị viện, vốn là một cơ quan nhà nước đang bị chỉ trích là không có khả năng khắc phục được tình trạng khủng hoảng kinh tế trầm trong của nước Đức. Chương trình hành động của đảng này được xây dựng trên cơ sở của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, tư tưởng “cộng đồng dân tộc” và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, đặc biệt là bài trừ người Do thái. Tư tưởng của đảng Quốc xã được tuyên truyền sâu rộng trong moi tang lớp xã hội.
Ví dụ: Trong một cuốn sách dạy nhạc của học sinh tiểu học có bài hát có lời như " Tran đẫm mồ hôi, bụng đói cồn cào. Bàn tay day than và bụi bẩn. Hãy đứng 16 dậy gia nhập đoàn quân, san sàng chiến đấu vì chủng tộc. Khi bọn Do thái do máu là lúc chúng ta được tự do.1933, Hitler cho tay chân gây ra vụ cháy Nhà quốc hội Đức'® rồi vu khống cho những người Cộng sản, tao cơ hội để y sử dụng "Chỉ thị về tình trạn g khẩ n cấp " để vô hiệu hoá các Đạo luật cơ bản.
Tuy vậy, đản g của Hitler vẫn chưa giành được đa số phiếu trong lần bau cử Nghị viện ngày 5. Sau đó, bằng thủ đoạn khống chế, de doa, Hitler đã kiếm được đủ số phiếu cân thiết để cho ra đời "Luật toàn quyền hành động”. Luật này cho phép Chính phủ, một cơ quan không có thẩm quyền ban hành Luật, trong khoảng thời gian 4 năm được ban hành Luật và sửa đổi Luật mà không cần sự phê chuẩn của Nghị viện và Hội đồng nhà nước. Đó là cở sở pháp lý để Hitler vô hiệu hoá hệ thống chính quyền ở các bang và xây dựng một hệ thống quản lý riêng của dang NAZI bên cạnh hệ thống quản lý Nhà nước ở trung ương.
Ngay từ thời kỳ này, về mặt quyền hạn, Nhà nước đã được coi là Nhà nước của đảng NAZI trong đó Hitler đóng vai trò là một Thủ tướng độc tài. Mùa hè năm 1933, sau khi đập tan các nghiệp đoàn và các đảng khác, dang NAZI đã độc quyền chiếm giữ quyền lực chính trị ở Đức. Bằng cách đưa ra kế hoạch trang bị hỗ trợ cho các cơ sở kinh tế và huỷ bỏ quyền tự quyết khi đưa ra các biểu thuế suất, Hitler đã giành được sự ủng hộ của những tập đoàn kinh tế còn lại. Bằng việc cho các tập đoàn kinh tế vay tín dụng của Nhà nước, Hitler đã làm được một việc mà trước đó Nghị viện Weimar không thể làm được là làm sống lại các hoạt động sản xuất đang bị tê liệt và từng bước thanh toán được nạn thất nghiệp.
Tiếp đó, vào năm 1936, Kế hoạch 4 năm nhằm trang bị quân đội và phát triển kinh tế phục vụ chiến tranh đã được Hitler tuyên bố tại Đại hội Dang Quốc xã vào ngày 9.1936 với mục tiêu do Hitler đề ra là chuẩn bi tiềm năng sắn sàng tiến hành cuộc chiến phục thù. Lúc này Hindenburg đã qua đời và Quân đội Đức đã nằm trong vòng kiểm soát của Hitler. Quyền lực của Hitler ngày càng được củng cố và hắn đã có đủ các điều kiện để thực hiện 17 các ý tưởng điên rồ củ a mì nh. Nh ằm tập tru ng qu yề n lực ki nh tế và o tay Nh à nước, đảng Quốc xã thự c hiệ n việ c ki ểm soá t các tập đo àn sả n xuấ t tư nh ân , hạn chế qu yề n tự ch ủ của các do an h ngh iệp và tịc h thu tài san của ngư ời Đứ c gốc Do thá i.
Bắt đầ u từ thá ng 4 nă m 193 3, các cửa hiệ u Do thá i đã bị tẩy cha y, người Đức gốc Do thá i bị phâ n biệ t đối xử và việ c bài trừ Do thá i đã đạt đỉn h điểm vào đê m 9.1 938 , mộ t đê m đi vào lic h sử nướ c Đứ c với cái tên “Reichskristallnacht-dém thuỷ tinh của Dé chế”, một đêm được đánh dấu bằng sự giết chóc, đốt phá day máu và nước mat đối với người Đức gốc Do thái. Đêm mùng 9 rạng ngày 10.1938, theo lệnh của J.Goebbels, Bộ trưởng Tuyên truyền Quốc xã, tất cả cửa hàng và nhà ở của người Do thái trên toàn nước Đức đều bị bao vây và đốt cháy, tất cả những ai chống cự đều bị giết, tra tấn hoặc bắt vào các trại tập trung. Chỉ riêng đêm hôm đó đã có khoảng hơn 26.000 người bị bat đi, thiệt hai vật chất lên tới hàng trăm tỷ mark. Về đối ngoại, mục tiêu cụ thể duoc Hitler dé ra từ những nam 1924/1925 khi hắn viết trong cuốn “Mein Kampf-Cuộc chiến đấu của tôi” là "giành lại những phần đất đã mất bằng một cuộc chiến đẫm máu và không phải chỉ khôi phục lại đường biên giới năm 1914 mà còn lấy lại đất đai của Đế quốc German thần thánh cách đây 6 thế kỷ.Hướng về phía Đông, trước hết là nước Nga và các vùng lân cận.
Kết cục của quyền lực của người Do thái ở Nga cũng là kết cục của Nhà nước Nga.Sau khi đã chiếm được không gian sinh tồn ở phía Đông, nước Đức sẽ chiếm được vi trí xứng đáng trên thế giới, một ngày nào đó sẽ trở thành bá chủ hoàn cầu. Nhằm che giấu ý đồ của mình, lúc đầu Hitler tuyên bố trước công luận rằng y nhân danh nước Đức yêu cầu xoá bỏ những ràng buộc của Hiệp ước Versailles đối với nước Đức và đòi quyền tự quyết cho người Đức. Điều này phù hợp với nguyện vọng của đông đảo người dân Đức nên y đã nhận được sự hưởng ứng cuồng nhiệt ở trong nước. Trong khi đó, các cường quốc thắng trận trong Chiến tranh thế 18 nghĩ rằng không thể tước bỏ vĩnh viễn quyền tự quyết của người Đức nên đã khô ng có sự phả n đối cươ ng quy ết khi Hitl er lên cảm quy ền.
Hitl er còn ký một Hiệp ước về Hải quân với Anh. Bằng chiến thuật đó Hitler đã có được một thời gian dài chuẩn bị cho chiến tranh mà không gặp phải sự chống đối nào đán g kể cả ở tron g và ngo ài nướ c. Sau khi hìn h thà nh khố i Trụ c Ber lin -Ro m và liên minh với Nhật vào năm 1936, Hitler đã bắt đầu kế hoạch phục thù bằng việc ban hành qui chế quân dịch, kiện toàn quân đội, đặc biệt là tăng cường sức mạnh của không quân; đưa quân vào khu vực phi quân sự Rheinland; “sáp nhập” nước Áo vào nước Đức, không công nhận Nhà nước Tiệp và định kế hoạch chiếm đóng vùng Sudeten của Tiệp. Nhằm thực hiện âm mưu đó, chúng kích động cho 3,5 triệu kiều dân Đức sống ở vùng Sudeten đòi quyền tự quyết, gây mâu thuẫn căng thẳng với Chúnh phủ Tiệp dẫn đến cuộc "Khủng hoảng Sudeten".
Lợi dung cơ hội đó, Hitler quyết định phát động chiến tranh xâm lược, đòi cắt Sudeten trả về Đức.