Chương I: TỔNG QUAN SỰ HÀI LÒNG TRONG HÔN NHÂN CỦA CÁC CẶP VỢ CHỒNG THEO ĐẠO TIN LÀNH Ở VIỆT NAM 1. Tổng quan các nghiên cứu về sự hài lòng hôn nhân chung Xét về mặt lịch sử, các nghiên cứu về sự hài lòng hôn nhân và hạnh phúc bắt đầu xuất hiện cùng lúc với thời kì được gọi là kỉ nguyên mới của những nghiên cứu khoa học về các hành vi gia đình. Kể từ đó, các chủ đề điều chỉnh về hôn nhân, hạnh phúc, thỏa mãn, hay những thuật ngữ liên quan về mối quan hệ hôn nhân đã trở thành một trong những chủ đề nghiên cứu phổ biến nhất của những nghiên cứu về gia đình trong khoảng thời gian 50 năm trở lại đây. Nhiều công cụ đo lường về sự thỏa mãn/hài lòng trong hôn nhân và hôn nhân thành công được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu, ví dụ: Phiếu Khảo sát sự Điều chỉnh trong Hôn nhân (Survey marital Adjustment) của Burgess và Cottrell, Thang đo hài lòng trong hôn nhân (Marital Satisfaction Scale) của Fink, Skipper, Hallenback, Bộ câu hỏi hài lòng trong hôn nhân (Marital Satisfaction Inventory) của Sydney Đánh giá cá nhân về sự thân mật trong hôn nhân (The Personal Assessment of Intimacy in Marital,.
Như vậy, có thể nói, trước năm 1960, nghiên cứu về hôn nhân có đặc điểm nổi bật là sự tìm hiểu chung về hôn nhân mà không chú trọng đến một lĩnh vực cụ thể hay chiều cạnh của những tương tác trong hôn nhân (Snyder, Clinical and research applications of the Marital Satisfaction Inventory.), Marriage and family assessment, 1983). Nói một cách khác, ở thời điểm này vẫn còn nhiều điểm mơ hồ trong việc hình thành nên các khái niệm. Trong những năm của thập niên 60, những nghiên cứu thực nghiệm đã nhấn mạnh vào danh tính và tìm hiểu mối tương quan nhân khẩu-xã hội với sự hài lòng/điều chỉnh/thỏa mãn trong hôn nhân. Mức độ hài lòng trong hôn nhân có xu hướng thay đổi trong suốt vòng đời của cặp vợ chồng và họ có thể được thể hiện trong mô hình hình chữ U bắt đầu cao trong những năm đầu của mối quan hệ (1–3 năm), và sau đó giảm dần trong những năm xen kẽ do kết quả của nỗ lực do nuôi dạy con cái (5–7 tuổi).
Nhưng tiếp theo 5 đó, sự hài lòng hôn nhân lại đạt đến các giá trị cao khi con cái rời khỏi nhà, với những thay đổi tiếp theo trong quan hệ vợ chồng, nơi cặp vợ chồng quay trở lại dành nhiều thời gian bên nhau hơn (Pérez, Isabel, and Sinuhé Estrada, 2006). Cùng với những yếu tố này, các yếu tố liên quan đến các cá nhân các mối quan hệ (tức là thỏa mãn tình dục), phong cách giao tiếp (tức là, biểu hiện cảm xúc về sự thân mật, tình yêu và các vấn đề), giải quyết xung đột, các sự kiện căng thẳng trong cuộc sống và những điểm tương đồng giữa vợ chồng có ý nghĩa phù hợp (Whisman, Mark A, 2019). Các thước đo chất lượng hôn nhân là những biến số được nghiên cứu thường xuyên nhất trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình (Spanier, G. Các nhà nghiên cứu phải xem xét một số vấn đề quan trọng khi lựa chọn thước đo chất lượng hôn nhân.
Tất nhiên, các tiêu chí cơ bản nhất là độ tin cậy và tính hợp lệ đầy đủ, nhưng một số vấn đề quan trọng khác đã được nêu ra mà cũng phải được tính đến. Bao gồm việc lựa chọn khía cạnh cụ thể của chất lượng hôn nhân sẽ được điều tra (ví dụ: sự điều chỉnh, bất hòa, hạnh phúc và sự hài lòng), nền tảng khái niệm của thước đo (Spanier & Lewis, 1980), cách nó giải quyết vấn đề quy ước trong hôn nhân (Edmonds, 1967)(Snyder, 1979), khả năng đánh giá cặp đôi như một đơn vị phân tích (Fowers. 1990; Spanier & Lewis, 1980; Thompson & Walker, 1982), các chuẩn mực của nó được thiết lập tốt như thế nào (Fowers, 1990) độ dài của nó (Spanier & Lewis, 1980), và mức độ liên quan của nó với liệu pháp hôn nhân và đánh giá lâm sàng (Spanier & Lewis, 1980). Một số công cụ chất lượng hôn nhân đã được phát triển gần đây nhằm cải thiện lĩnh vực nghiên cứu này.
Chất lượng hôn nhân được phát hiện có hai khía cạnh chính, với những cấu trúc như sự điều chỉnh và sự hài lòng là một và những cấu trúc như sự ủng hộ ly hôn và sự bất hòa là một khía cạnh khác (Johnson, 1986). Mục đích của bài viết này là trình bày dữ liệu về độ tin cậy và tính hợp lệ cho ENRICH Marital Satisfaction EMS (Thang đo mức độ hài lòng trong hôn nhân ENRICH). Do đó, trọng tâm là các vấn đề đo lường liên quan đến thang đo điều chỉnh và hài lòng trong hôn nhân, bắt đầu bằng việc đánh giá các biện pháp tự báo cáo chính về điều chỉnh và hài lòng trong hôn nhân đối với các vấn đề đo lường nêu trên. Thang đo mức độ hài lòng trong hôn nhân EMS gồm 15 items.
Thang đo được 6 phát triển từ Thang đo điều chỉnh Dyadic (Spanier G., 1976), Kiểm kê mức độ hài lòng của hôn nhân (Snyder, Multidimensional assessment of marital satifaction, 1979) và Thang đo mức độ hài lòng của hôn nhân Kansas (Schumm, 1981). Hướng nghiên cứu sự hài lòng trong hôn nhân theo các biến nhân khẩu a) Sự khác biệt giới Giới tính từ lâu đã được xác định như một yếu tố dự báo mức độ hài lòng trong hôn nhân (Bernard, 1972). Cụ thể, các nghiên cứu ban đầu cho thấy nam giới hài lòng hơn với cuộc hôn nhân của họ so với phụ nữ ở cả hai nền văn hóa phương Tây (Schumm, W., 1998) và các nước ngoài phương Tây (Rostami, A.Tuy nhiên, sự khác biệt về giới tính trong sự hài lòng trong hôn nhân có thể khác nhau giữa các nền văn hóa do vai trò giới tính truyền thống (Pardo, 2012) và các biến số văn hóa ở quy mô lớn hơn, chẳng hạn như chủ nghĩa bình đẳng giới tính (Taniguchi, H. Nhưng nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng cho thấy ở cả phương Đông và phương Tây, phụ nữ ít hài lòng về hôn nhân hơn so với nam giới.
Theo Bulanda, khác biệt về giới trong sự hài lòng hôn nhân bị ảnh hưởng bởi việc làm, chăm sóc con cái, chăm sóc gia đình và yếu tố sức khỏe. Tác giả đã cho rằng trong 10 năm đầu của hôn nhân mới đủ để đánh giá được chất lượng hôn nhân của các cặp đôi so với chỉ trong những năm đầu của hôn nhân. Lawrence và cộng sự (2008) đã chỉ ra rằng trong 3 năm đầu của hôn nhân, gần như không có sự khác biệt về sự hài lòng trong hôn nhân ở các cặp đôi. Sau 4 năm chung sống, có từ 3% - 14% vợ hoặc chồng trong ba nhóm hài lòng nhất đã kết thúc cuộc hôn nhân của họ, trong khi 25% - 54% vợ hoặc chồng trong hai nhóm hài lòng ít nhất đã làm như vậy.
Sau 10 năm, 9% - 26% trong số ba nhóm hài lòng nhất đã kết thúc cuộc hôn nhân của họ, trong khi 40% - 60% trong hai nhóm hài lòng ít nhất đã kết thúc cuộc hôn nhân (Lavner, J. Điều này cũng cho thấy ảnh hưởng của độ dài hôn nhân cũng dẫn đến chất lượng hôn nhân của các cặp đôi. 7 Ảnh hưởng của độ dài hôn nhân đến sự hài lòng trong hôn nhân là tiêu cực (nó được thảo luận với độ dài mối quan hệ) hoặc thay đổi theo đồ thị hình chữ U (bộc lộ ngay từ đầu và tăng lên sau một thời gian) (Kurdek, 1999). Người ta có thể dự đoán rằng biến số này có thể khác nhau giữa các nền văn hóa, chẳng hạn như trong các cuộc hôn nhân sắp đặt, sự hài lòng trong mối quan hệ hôn nhân sắp đặt có thể thấp hơn trong giai đoạn đầu của hôn nhân (Xiaohe, 1990) Lavner và Bradbury (2010) cũng phát hiện ra rằng mặc dù một số cặp có sự khác biệt nhưng nhìn chung, sự hài lòng trong hôn nhân của những cặp mới cưới ở mức cao rồi giảm dần theo thời gian.
Kết luận này được minh chứng bằng 8 lần đo lường sự hài lòng được thu thập trong hơn 4 năm từ 464 phụ nữ mới cưới. Trong khi đó, một số nghiên cứu khác lại cho rằng sự hài lòng hôn nhân không suy giản theo thời gian. Chẳng hạn: nghiên cứu về mối quan hệ thân mật và hài lòng hôn nhân bằng phương pháp đánh giá thông qua cảm nhận cá nhân, giao tiếp và sự hạnh phúc của Abraham P. và cộng sự (2011) đã chỉ ra rằng không có sự khác biệt về sự hài lòng hôn nhân ở các giai đoạn khác nhau trong vòng đời gia đình (Abraham P.Buunkc và cộng sự, 2011).
Thậm chí, nghiên cứu của Gorchoff và cộng sự (2008) trên nhóm khách thể là phụ nữ nhận thấy sự hài lòng hôn nhân không những không suy giảm mà còn tăng lên ở thời kì trung niên. Đặc biệt ở những phụ nữ không bận rộn chuyện con cái nữa thì sự hài lòng hôn nhân tăng lên tương quan thuận với việc họ dành thời gian hưởng thụ (Sara M. John, Ravenna Helson, 2008). Một số nghiên cứu trường diễn khác khẳng định rằng sự biến đổi của mức độ hài lòng về cuộc sống hôn nhân có xu hướng giảm dần theo thời gian ở những năm đầu nhưng lại có thể tăng trong những năm sau đó.
Các quan sát cũng chỉ ra sự hài lòng về cuộc sống hôn nhân tăng lên vào những năm sau của cuộc hôn nhân (Bradbury và cộng sự, 2000; Karney và Bradbury, 1995) Nghiên cứu ở Việt Nam của Đặng Thị Thu Trang và cộng sự (2018), đã chỉ ra những người có cuộc hôn nhân kéo dài trên 30 năm thì sự tương tác giữa vợ và chồng có tác động mạnh mẽ nhất đến sự hài lòng hôn nhân của họ và mối quan hệ này yếu hơn ở những người kết hôn từ 16 – 30 năm. Điều này cũng thể hiện được việc độ dài của hôn nhân cũng ảnh hưởng đến sự hài lòng hôn nhân của các cặp vợ 8 chồng ở Việt Nam. c) Tình trạng hôn nhân Trong nghiên cứu của Tihana Brkljačić (2018), nghiên cứu 1087 khách thể về sự hài lòng hôn nhân, cho thấy, So sánh sự hài lòng hôn nhân giữa những người đã kết hôn / đang trong một mối quan hệ và độc thân những người tham gia tiết lộ rằng những người tham gia đã kết hôn hoặc trong một mối quan hệ hạnh phúc hơn và hài lòng hơn với cuộc sống. Họ cũng hài lòng hơn với đời sống tình cảm, mối quan hệ với các thành viên trong gia đình, ngoại hình và thành tựu trong cuộc sống (Tihana BRKLJAČIĆ, Renata GLAVAK TKALIĆ, Lana LUČIĆ, Ines, 2018).