phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn bao gồm 5 chƣơng: Chƣơng 1. Giới thiệu nghiên cứu Chƣơng 2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chƣơng 3. Quy trình và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4.
Tổng quan tỉnh Đồng Nai và du lịch tỉnh Đồng Nai Chƣơng 5. Kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Một số vấn đề lý luận về hoạt động du lịch tại các DTLSVH 2. Khái niệm và phân loại DTLSVH DTLSVH chứa đựng những truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn hóa, kiến trúc, mỹ thuật của mỗi địa phƣơng, mỗi quốc gia. DTSLVH là tài nguyên nhân văn quý giá đƣợc hình thành, bảo tồn, tôn tạo của nhiều thế hệ ở các địa phƣơng và các quốc gia. DTSLVH là khách thể của hoạt động du lịch.
Mỗi quốc gia trên thế giới đều có những quy định về DTLSVH. Xem xét DTLSVH với tƣ cách là tài nguyên du lịch nhân văn với các giá trị nhân văn vật thể và phi vật thể có một số khái niệm tiêu biểu nhƣ sau: Theo Hiến chƣơng Vơnidơ - Italia (1964), “Di tích lịch sử không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử. Khái niệm này không chỉ áp dụng với những công trình nghệ thuật to lớn mà cả với những công trình khiêm tốn hơn vốn đã, cùng với thời gian, thâu nạp đƣợc một ý nghĩa văn hoá” (trích theo Bùi Thị Hải Yến (2007)). Theo Đạo luật 16 về di tích lịch sử của Tây Ban Nha (1985), di tích lịch sử văn hoá đƣợc gọi là di tích lịch sử: “Di tích lịch sử bao gồm các bất động sản và các động sản có lợi ích nghệ thuật, có lợi ích sinh vật học, khảo cổ học, dân tộc học, khoa học hoặc kỹ thuật, cũng kể cả di tích tự nhiên và thƣ mục, các lớp mỏ, các khu vực khảo cổ, các thắng cảnh thiên nhiên, các công viên, các vƣờn có giá trị nghệ thuật lịch sử hay nhân chủng học” (trích theo Bùi Thị Hải Yến (2007)).
Theo công ƣớc về việc bảo vệ di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới của UNESCO (1971), DTLSVH là: 1) Các di tích: Các công trình kiến trúc, điêu khắc hoặc hội hoạ hoành tráng, các yếu tố hay kết cấu có tính chất khảo cổ học, các văn bản, các hang động và các nhóm yếu tố có giá trị quốc tế đặc biệt về phƣơng diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học; 2) Các quần thể: Các nhóm công trình xây dựng đứng một mình hoặc quần tụ có giá trị quốc tế đặc biệt về phƣơng diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học, do kiến trúc, sự thống nhất của chúng hoặc sự nhất thể hóa của chúng vào cảnh quan; và 3) Các thắng cảnh: Các công trình của con ngƣời hoặc những công trình của con ngƣời kết hợp với công trình của tự nhiên, cũng nhƣ các khu vực, kể cả LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 các di chỉ khảo cổ học, có một giá trị quốc tế đặc biệt về phƣơng diện lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học. Theo Luật Di tích văn hoá Việt Nam (2001) và Luật Di tích văn hoá bổ sung và sửa đổi của Việt Nam (2009) thì DTLSVH là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học. DTLSVH phải có một trong các tiêu chí sau: 1) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hoá tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phƣơng; 2) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hƣởng tích cực đến phát triển của quốc gia hoặc của địa phƣơng trong các thời kỳ lịch sử; 3) Địa chỉ khảo cổ học có giá trị tiêu biểu; 4) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cƣ trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật (Quốc hội, 2001). Qua những khái niệm trên về di tích lịch sử văn hóa, ta có thể rút ra đặc điểm chung của DTLSVH nhƣ sau: Thứ nhất, di tích là một không gian vật chất cụ thể, khách quan nhƣ công trình, địa điểm, các di vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm và cảnh quan thiên nhiên có sự kết hợp với các công trình kiến trúc hoặc địa điểm ghi dấu hoạt động của con ngƣời nằm trong khu vực cảnh quan thiên nhiên đó.
Di tích tồn tại cụ thể trong một không gian và thời gian, các di tích có quy mô, kiến trúc khác nhau. Thứ hai, di tích không chỉ kết tinh những giá trị lao động xã hội của con ngƣời trong lịch sử sáng tạo mà còn kết tinh những giá trị điển hình về lịch sử, văn hóa, khoa học. Điều này hết sức quan trọng, khẳng định trƣớc hết nó thuộc về sở hữu của ngƣời lao động sáng tạo ra nó, nhƣng nó là tài sản của quốc gia vì bản thân nó đã chứa đựng những giá trị điển hình của xã hội. Thứ ba, di tích bao gồm những bộ phận cấu thành: Môi trƣờng, cảnh quan thiên nhiên xen kẽ, hoặc bao quanh di tích; những công trình, địa điểm liên quan tới sự kiện lịch sử; hoặc nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa và những giá trị văn hóa tinh thần hay còn gọi là văn hóa phi vật thể gắn với công trình, địa điểm đó.
Với các đặc điểm này, khái niệm DTLSVH theo Luật Di tích Việt Nam phản ánh đầy đủ nhất đặc điểm, nội dung giá trị của DTLSVH và đƣợc lựa chọn phục vụ nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Phân loại DTLSVH nhằm thống kê, đánh giá đúng hiện trạng, giá trị kho tàng di tích văn hoá cả vật thể và phi vật thể góp phần nghiên cứu khoa học, bảo tồn, tôn tạo, khai thác và phát huy các giá trị của di tích lịch sử văn hoá phục vụ du lịch. Luận văn tập trung vào hai cách phân loại DTSLVH đó là phân loại theo tính chất và phân loại theo tiêu chí xếp hạng. Phân loại di tích theo tính chất của di tích: Theo cách phân loại này di tích lịch sử văn hóa bao gồm: DTLSVH khảo cổ, di tích lịch sử, DTLSVH nghệ thuật.
- DTLSVH khảo cổ: di tích khảo cổ là những công trình, địa điểm tồn tại trên mặt đất, trong lòng đất hoặc dƣới nƣớc mà ở đó lƣu giữ những di vật, mọi vết tích sinh tồn trong những cấu trúc đã bị hoang phế có liên quan tới quá trình tồn tại và phát triển của một tộc ngƣời, một cộng đồng cƣ dân ở những thời điểm xa xƣa của lịch sử. Di tích khảo cổ còn đƣợc gọi là: “di chỉ khảo cổ học” đây là một thuật ngữ khoa học về khảo cổ để chỉ các đối tƣợng hoạt động của khảo cổ học. Thông qua các đối tƣợng này, các nhà khảo cổ tiến hành thăm dò, khai quật, nghiên cứu về các dấu tích vật chất. Từ đó, tìm hiểu về xã hội mà cộng đồng dân cƣ đã sống trong những thời điểm nhất định của lịch sử đã trải qua trong quá khứ.
Có nhiều loại di tích khảo cổ, quan trọng nhất là di tích nơi cƣ trú thời cổ và mộ táng cổ. Di tích nơi cƣ trú cổ bao gồm: di tích di chỉ hang động, di chỉ phù sa, đống vỏ sò; di chỉ cƣ trú không thành lũy, di chỉ cƣ trú có thành lũy; di tích mộ táng bao gồm: di chỉ mộ thuyền, di chỉ mộ chum vò, di chỉ hầm mộ, di chỉ mộ hợp chất. - Di tích lịch sử: di tích lịch sử là những khu vực, địa điểm, các công trình với quy mô và tính chất khác nhau, ở đó lƣu giữ và ghi lại những dấu ấn về các sự kiện, nhân vật lịch sử tiêu biểu có tác động, ảnh hƣởng sâu sắc, trực tiếp hoặc gián tiếp đến tiến trình lịch sử dựng nƣớc, giữ nƣớc và phát triển của địa phƣơng, đất nƣớc và dân tộc. Di tích lịch sử là những di tích mang trong mình những nội dung chủ yếu liên quan đến các nhân vật và sự kiện tiêu biểu trong tiến trình lịch sử dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc.
Dựa trên nội dung giá trị lịch sử di tích đó mang chở, có thể phân loại di tích lịch sử nhƣ sau: Những di tích ghi dấu các sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng, những di tích ghi dấu chiến công của quân và dân, những di tích ghi dấu chứng tích chiến tranh, những di tích lƣu niệm danh nhân, anh hùng liệt sĩ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 - Di tích kiến trúc nghệ thuật: di tích kiến trúc nghệ thuật là những công trình kiến trúc, điêu khắc với quy mô và tính chất khác nhau; các tác phẩm nghệ thuật của nhiều thời đại., chúng đƣợc tạo dựng để phục vụ đời sống tinh thần, đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt tôn giáo - tín ngƣỡng, văn hóa - xã hội của các tầng lớp nhân dân. Di tích kiến trúc nghệ thuật là những di tích gắn với những công trình xây dựng, kiến trúc điển hình. Dựa vào thực tế tồn tại, có thể chia hệ thống di tích kiến trúc nghệ thuật ở Việt Nam thành các nhóm di tích sau đây: nhóm di tích tôn giáo, tín ngƣỡng, nhóm di tích kiến trúc quân sự, nhóm di tích kiến trúc dân sự.
Nhóm di tích tôn giáo, tín ngƣỡng gồm: di tích đình làng, di tích chùa tháp Phật giáo, di tích gắn với Nho giáo, di tích gắn với Đạo giáo, di tích đền thờ, di tích nhà thờ, di tích gắn với các tín ngƣỡng dân gian truyền thống. Nhóm di tích kiến trúc quân sự gồm: di tích thành lũy quân sự - kinh đô cổ; di tích trấn thành, tỉnh thành, đồn binh, chiến lũy quân sự cổ. Nhóm di tích kiến trúc dân sự gồm: di tích cung điện, dinh thự; di tích kiến trúc Chăm Pa, di tích kiến trúc làng cổ, di tích phố cổ, di tích nhà cổ, di tích lăng mộ. Theo tiêu chuẩn xếp hạng DTLSVH: các di tích lịch sử văn hoá tuỳ theo giá trị đã đƣợc các tổ chức quốc tế, các quốc gia xếp hạng ở các cấp khác nhau.